Xem phiên bản đầy đủ : Sức khỏe
Trần Đức Quang
15-05-2013, 12:15 AM
THẦN DƯỢC - CHỮA BÁCH BỆNH ! ???
Trước hết phải nói ngay rằng, cái mà ở đây gọi là “Thần Dược” không phải lên núi cao hay xuống biển sâu mới tìm được nó, mà ngay trong vườn hay bất cứ chợ nào cũng có và thường bán rất rẻ, người nghèo nhất cũng mua được. Xin nói mau đó là: Trái Thơm (T) – Cà Chua (C) – và Chuối Sứ (C).Người Bắc gọi là Chuối Tây,người Trung gọi là chuối Mốc. Không ai tưởng tượng nổi ba loại trái cây rẻ tiền nầy lại có thể trở thành Thần Dược và chữa được Bách bệnh. Thật vậy, Thơm ,Cà Chua và Chuối là ba loại trái cây hết sức bình thường, nhưng khi chúng được kết hợp lại thì nó trở thành hết sức phi thường, có thể phòng và chữa được rất nhiều bệnh, trong đó các bệnh thuộc Bộ Tiêu Hóa là hiệu quả cao nhất và nhanh nhất. Tính khoa học của nó, ở đây ta chỉ có thể hiểu đại khái: Cơ thể con người là cả một hệ thống ống dẫn, trong đó các ống lớn là ruột non, ruột già, khí quản, thực quản, động mạch, tỉnh mạch v.v… Bệnh tật của con người đa phần đều do các ống dẫn tắc nghẽn, giống như khi ống cống bị nghẹt thì sẽ có đủ thứ chuyện phiền toái. Chất Acid trong Thơm và Cà Chua được coi là chất “thông cống” có khả năng khai thông tất cả. Nhưng nếu chỉ dùng thuần Thơm và Cà Chua thì không thể chịu nổi, lợi bất cập hại, thậm chí có thể bị thủng Bao Tử. Acid muốn được trung hòa thì phải có chất kiềm, từ đó mới có thể ăn dùng được lâu dài. Trong các loại thực phẩm có chứa chất Kiềm chỉ có Chuối Sứ luộc là lí tưởng nhất vì nó có thể đáp ứng được một lúc rất nhiều nhu cầu. Ngoài nhu cầu chất Kiềm có tính quyết định, trong chuối Sứ còn có chất Ma-nhê giúp chống trầm cảm, chống Stress; nó cũng có chứa sinh tố B1 và B6. B1 chống tê phù và giúp ăn ngon miệng; B6 giúp làn da trở nên tươi sáng, săn chắc nõn nà…( sinh tố A và C trong Thơm và Cà Chua cũng góp phần làm nên việc thần kỳ nầy), đồng thời chuối Sứ còn là một trợ thủ đắc lực trong việc chữa trị các bệnh Viêm gan Siêu vi. Chưa hết Chuối Sứ luộc cũng có khả năng chữa được bệnh Viêm Loét Dạ dày và điều chỉnh những rối loạn bộ Tiêu Hóa. Một loại trái cây “siêu tuyệt vời “ như thế nếu được kết hợp với Thơm và Cà Chua, thiết nghĩ nó trở thành “Thần Dược” cũng là điều dể hiểu. Cũng cần nói thêm: Thơm và Cà Chua là hai loại trái cây có nhiều sinh tố A và C. Đây là hai loại sinh tố chống Oxy hóa hay trung hòa các gốc tự do rất hiệu quả! Đặc biệt Cà Chua nó góp phần tích cực trong việc điều chỉnh Bộ Tiêu Hóa, trợ tỳ và luôn làm cho ta lúc nào cũng ngon miệng. Thơm cũng vậy, nó luôn luôn là “khắc tinh” của mỡ thừa và các loại sỏi, gai… đồng thời nó cũng có thể chữa lành một trong các loại bệnh Kiết, vì thế trong dân gian mỗi khi bị bệnh Kiết liền ăn Thơm vào hy vọng “trúng bệnh” sẽ khỏi ngay. Dù Thơm khó có thể chữa lành tất cả bệnh Kiết lỵ, nhưng nhìn chung nó là người bạn đáng tin cậy đối với Bộ Tiêu Hóa nói riêng, cơ thể con người nói chung. Chưa hết trong Thơm còn có chất Noni như trong trái Nhàu, một chất giúp phòng và chữa được rất nhiều bệnh. Do đó, Thơm rất xứng đáng “chung lưng đấu cật” cùng Cà Chua với Chuối Sứ hình thành thế chân vạc, tạo nền móng vững chắc cho… “Thần Dược”
Môt cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.
Câu ca dao nghe hợp tình, hợp cảnh làm sao! Ở đây ta thấy rằng “hòn núi TCC” cao hơn tất cả các nền y học Đông Tây kim cổ, trong đó triết lý “Thống bất thông, thông bất thống” được coi là nền móng vô cùng vững chắc. Với nền móng đó, “hòn núi TCC “ sẽ trơ gan cùng tuế nguyệt để “Thần Dược” mãi mãi là “Thần Dược” và dứt khoát không bao giờ có cái gọi là lờn thuốc”! Tất nhiên với sự góp mặt thường xuyên các sinh tố C thiên nhiên, các mạch máu sẽ dẽo dai, bền chắc,đồng thời khả năng đề kháng cũng luôn được phát huy cao độ. Phải nói rằng Đông y và Tây y đều biết rất rõ cái triết lý “Đau không thông, thông không đau”, nhưng thuốc men đã tỏ ra bất lực trong việc khai thông những ống lớn, ống nhỏ trong cơ thể,thành ra bệnh tật sẽ hành hạ con người dài dài cho đến ngày tận thế. “Thần Dược TCC” sẽ là vị “cứu tinh” đối với những ai biết phát huy lý trí và ý chí, kiên trì thực hành đến nơi đến chốn.
Đó là phần lý thuyết và là phần tích cực ở đây chúng ta chỉ có thể hiểu một cách bình dân như vậy. Phần thực hành quan trọng hơn, vì hổn hợp TCC có trở thành “Thần Dược” hay không hoàn toàn tùy thuộc vào sự hiểu biết của mỗi bệnh nhân. Sở dĩ đòi hỏi bệnh nhân luôn luôn động não là vì tùy loại bệnh, tùy tình trạng bệnh mà hỗn hợp TCC phải biết gia giảm đúng mức và kịp thời, như thế mới hy vọng đẩy lùi được mọi bệnh tật.
Thật vậy khi đã nắm vững” Dược tính” của ba loại trái cây quen thuộc này thì sự gia giảm không còn là vấn đề nan giải nữa. Ví dụ muốn chữa bệnh Dạ Dày thì lượng chuối luộc phải nhiều hơn lượng Thơm và Cà Chua.Trái lại nếu muốn phòng và chữa các bệnh: Béo phì, Cao huyết áp, Nhồi máu cơ tim, Tai biến, Sỏi thận, Hen suyễn, Thấp khớp… nói chung là những bệnh do dư Mỡ và Cholesterol gây ra, thì lượng Thơm và Cà Chua phải nhiều hơn, tất nhiên sẽ rất nhuận trường. Có thể nói, Acid trong Thơm và Cà Chua luôn là khắc tinh của Sỏi, Mỡ, Gai, Huyết khối và Cholesterol xấu và dường như chúng đã thề “không đội trời chung” với nhau. Đây là điều mà những bệnh nhân Béo phì,Tim mạch, Hiếm muộn, Sỏi thận, Gai cột sống, v v… nên hết sức lưu tâm! Kinh nghiệm rằng ăn dùng hổn hợp TCC thường rất dể chịu, kể cả lúc bụng đói, điều đó chứng tỏ nó rất phù hợp với quy luật sinh lý con người. Tính quy luật của nó là bất cứ người nào ăn dùng hổn hợp TCC cũng có thể phòng và chữa bệnh rất hiệu quả. Đặc biệt những người có Bộ Tiêu Hóa lộn xộn bất an… bảo đảm chỉ sau vài giờ ăn dùng hổn hợp TCC sẽ thấy trong bụng dể chịu ngay! Riêng người bị Kiết hoặc đi chảy thì chỉ dùng Chuối luộc, ăn luôn cả vỏ, Chuối xanh càng tốt (chuối sống). Luộc chín cho tí muối, ăn luôn cả nước lẫn cái, ăn vài lần sẽ cầm được và phân sẽ chặt lại ngay. Đây là kinh nghiệm dân gian rất lâu đời, đồng thời cũng là kinh nghiệm của bản thân tác giả. Riêng bệnh Táo bón phải dùng lượng Thơm và Cà Chua gấp đôi lượng Chuối, nhất là Chuối phải thật chin rục, bỏ vỏ ăn sống chứ không cần luộc.
Nói chung nếu không có Thơm ngọt thì phải tìm Chuối thật chín mới có độ ngọt cao để trung hòa được cái chua của Thơm và Cà chua. Dù sao hổn hợp TCC cũng rất khó ăn vì độ ngọt của Chuối chín rục cũng không đủ để trung hòa làm cho “Thần Dược” hấp dẫn hơn. Có thể cho thêm đường, sữa hay mật ong (mật ong tốt nhất) vào hổn hợp nầy cho nó dể ăn hơn. Nên nhớ, không được cho quá nhiều, chỉ ngọt như sữa mẹ là tốt nhất. Nói vậy chứ ăn thuần hổn hợp TCC là tốt nhất và dùng cho những ai kiêng đường. Hãy luôn luôn theo dõi phản ứng cơ thể để điều chỉnh lượng Chuối sao cho có hiệu quả cao nhất!
Cách chế biến:
- Chuối Sứ bỏ vỏ xắt lát luộc với một tí muối
- Thơm bỏ cùi băm nhuyễn.
- Cà Chua dùng vỏ và hột (vì vỏ có chất tốt cho Tim, trong hột có chất tốt cho mạch máu).
Tất cả cho vào máy xay sinh tố và một ít nước. Hổn hợp TCC là một dạng sinh tố, nên ăn mát không nên ăn lạnh – hay luộc cả 3 thứ ăn cũng tốt. Nên nhớ Thần Dược TCC phải ăn “trường kỳ kháng chiến” mới có thể phòng và chữa được nhiều bệnh nan y. Vì thế ăn phải cảm thấy ngon miệng và thích thú mới có thể áp dụng lâu dài. Có thể thay đổi cách ăn thế nầy: Chuối luộc sẳn bỏ vào tủ lạnh, Cà Chua và Thơm xay chung cho một tí muối và đường, cũng cất vào tủ lạnh. Khi nào muốn ăn thì ăn 1 trái Chuối, xong uống môt ly hổn hợp Thơm, Cà. Phải nhớ phòng bệnh luôn luôn tốt hơn trị bệnh! Đặc biệt người muốn phòng các bệnh: Béo phì, Huyết áp,Tiểu đường, Tai biến, Nhồi máu, Hen suyễn, Sỏi, Gai, Gout… thì chỉ cần mỗi buổi sáng ăn 01 ly Thần dược TCC cũng tạm đủ. Còn muốn chữa các bệnh nan y, phải “chữa cháy” bằng cách ăn thuần “Thần dược” thay cơm ít nhất phải trên ba tuần, may ra mới hy vọng đẩy lùi bệnh nan y và thần chết. Người bệnh phải ý thức rằng hổn hợp TCC đầy đủ các chất bổ, có thể ăn lâu dài mà không sợ suy dinh dưỡng, nhất là ăn với Sữa bò hoặc Mật ong. Cụ thể là ăn vào lúc nào cũng cảm thấy trong bụng rất dể chịu. Đây là một dạng ăn nhẹ nà có lẽ người bệnh nào cũng rất thích. Có thể ví Bộ Tiêu Hóa của con người giống như Bộ Lương Thực trong một Quốc Gia, mà nó bị suy yếu hoặc rối loạn thì cả Nước phải suy sụp dây chuyền, từ đó “ thù trong giặc ngoài” sẽ không ngừng nổi dậy làm loạn. Người có Bộ Tiêu Hóa tốt thì các cơ quan nội tạng sẽ không dể gì đau bệnh, đúng như quan niệm “có thực mới vực được đạo”. Gọi hổn hợp TCC là “Thần dược” vì nó có khả năng điều chỉnh thường xuyên Bộ Tiêu Hóa, nhờ đó con người lúc nào cũng ăn ngon ngũ khỏe, đồng thời lúc nào cũng lạc quan yêu đời.
Nên nhớ rằng Acid trong Thơm và Cà Chua luôn luôn là khắc tinh của Mỡ thừa, vì thế khi ăn hổn hợp TCC, người bị Béo phì hoặc Tiểu đường nên bớt Chuối luộc đồng thời tăng gấp đôi Thơm , Cà Chua (sẽ nhuận trường đấy). Chúng ta biết rằng người bị Tiểu đường týp 2 là do Mỡ thừa bao vây, cô lập và vô hiệu hóa insulin. Khi bệnh nhân đưa “khắc tinh” vào hàng ngày thì Insulin sẽ được giải phóng, bệnh Tiểu đường sẽ tự miễn dịch một cách thần kỳ như có phép lạ! Người bị Béo phì cũng vậy, ngoài những bữa ăn chính, hãy ăn hổn hợp TCC lai rai cả ngày, sẽ thấy Mỡ thừa sẽ tan biến dần dần. Tuy chậm mà chắc, mưa dầm thấm sâu. Có lẽ tốt nhất mỗi ngày, ngoài những lần lai rai, sau mỗi bữa ăn chính nên ăn tráng miệng lưng chén “Thần dược” trước mắt : giúp tiêu hóa tốt các chất dầu mỡ và đồ nóng, lâu dài ta khống chế được các căn bệnh nêu trên. Người áp dụng theo phương cách phòng bệnh nầy, khi ngồi vào bàn ăn khỏi phải bận tâm bữa nay có canh rau gì hay không, vì với lưng chén ‘Thần dược” cũng đủ đáp ứng nhu cầu chất tươi làm cho mát ruột, mát gan, đầu tiên là mát miệng.
Đối với một số người, hổn hợp TCC có thể không hấp dẩn lắm nhưng biết chắc rằng Thơm - Cà Chua – Chuối là ba loại trái cây chống Oxy hóa rất hiệu quả, nên dù có hơi dở cũng vẫn ăn hoài không biết chán, như thế mới là người có lý trí và ý chí chứ! Tất nhiên muốn trị bệnh phải ăn thuần hổn hợp TCC thay cơm ít nhất cũng phải được 05 ngày gọi là “tổng vệ sinh” sau đó mới ăn theo cách phòng bệnh sẽ thấy sức khỏe là cái gì luôn nằm trong tầm tay. Chú ý: nếu ăn vào mà trong bụng cảm thấy khó chịu thì nên tăng thêm lượng Chuối luộc, bảo đảm sẽ rất dể chịu và có thể ăn lâu dài được. Có người thắc mắc, những người gầy có dùng được hổn hợp TCC được không? Rất tốt! Nếu ở người mập, Acid trong Thơm và Cà Chua nó quyết “ăn thua đủ” với mỡ thừa thì ở người gầy không có mỡ thừa, thì nó liền quay sang khai thông những ống lớn, ống nhỏ trong bộ tiêu hóa, do đó người gầy sẽ có da thịt hơn nhờ ăn ngon, ăn nhiều và luôn luôn tiêu hóa tốt. Gọi hổn hợp TCC là “Thần Dược” vì nó cũng có khả năng quân bình hóa các trường hợp thái quá (mập) bất cập (gầy) nhằm đem niềm vui cho toàn thể nhân loại. Ăn theo cách phòng bệnh có thể mập lên (nhưng vẫn khỏe) vì hổn hợp TCC có khả năng điều chỉnh bộ tiêu hóa, làm cho nó hấp thu các dưỡng chất nhiều nhơn. Chỉ ăn theo cách chữa bệnh (ăn thuần “thần Dược” thời gian) mới thực sự làm giảm cân và chữa được nhiều bệnh. Xin đừng lẩn lộn cách ăn phòng bệnh và cách ăn chữa bệnh! Sự lẫn lộn có thể có kết quả trái ngược: muốn mập lại gầy, muốn gầy lại mập, không làm chủ được trọng lượng cơ thể. Tất nhiên khi không làm chủ được trọng lượng thì việc chữa bệnh khó đạt kết quả như ý. Cho nên phải nắm cho thật vững phần lý thuyết trước khi thực hành, nếu không, chỉ vài ngày là bỏ cuộc. Phải nhớ làm chủ được mọi bệnh tật không phải là chuyện đùa, phải đầu tư công sức kiểu “trường chinh” mới hy vọng thành công! Vì thế dùng “Thần Dược” thì phải dùng cả đời, giống như cả đời ta không thể “trây nhớt” trong việc vệ sinh bản thân. Trong ý nghĩa nầy người nào không thể dùng “Thần Dược” được thì cũng giống như những kẻ cả đời lười nhác không thèm tắm giặt, chấp nhận sống chung với ghẻ, lác, chấy, rận… Ở đây, sự đột quỵ, đột tử cũng như ung thư, thấp khớp, tiểu đường.v.v... được ví như” ghẻ, lác, chí, rận” mà chỉ những kẻ ‘ở dơ” mới chấp nhận sống chung với nó mà thôi. Vô tình hoặc cố ý, y học đã thủ tiêu lý trí và ý chí của con người, thành ra nhân loại sẽ còn “ở dơ” cho tới ngày tận thế. Thật tội nghiệp.
Nói tóm lại, khi đã nắm vững ”dược tính” của ba loại trái cây quen thuộc này thì mỗi người có thể tự phòng và tự chữa bệnh bằng cách gia giảm lượng Thơm, Cà chua và Chuối Luộc. Vì đây là một loại “Thực dược”nên hoàn toàn không có một tác dụng phụ nguy hiểm nào như thuốc Tây. Tính cách “Thần Dược“ của nó, ta có thể kiểm chứng ngay ở các bệnh thuộc Bộ Tiêu Hóa: Sình bụng - Khó tiêu - Đi chảy - Đi không dứt khoát (đi hai, ba lần) - Phân sền sệt (không chặt) rất khó chịu v.v…chỉ cần ăn hổn hợp TCC, 03 lần là thấy dể chịu ngay. Những người có tiền sử hay có nguy cơ: Béo phì, Huyết áp, Tiểu đường, Tai biến, Nhồi máu, Hen suyễn, Sỏi, Gai, Gout…hãy kiên trì dùng hổn hợp TCC, chắc chắn sẽ không làm phiền Bs nữa! Tính hợp lý của vấn đề là khi các ống lớn, ống nhỏ trong cơ thể luôn được khai thông thì các bệnh nan y vừa nêu ở trên sẽ hết lý do tồn tại. Đơn giản biết bao! Đúng như lời người xưa đã nói” Tri kỳ lý, nhất ngôn nhi chung”!
TĐQ ST
Trần Đức Quang
15-05-2013, 12:17 AM
9 lệnh giải rượu và điều kỵ sau uống rượu
(Do Nguyễn Văn Chử tổng hợp thành thơ)
9 lệnh giải rượu
- Nước ấm pha chút mật ong
Vừa hay giải rượu lại không đau đầu.
- Nước ép cà chua nhiệm màu
Một ly lớn đủ phá sầu rượu say.
- Trái nho tươi cũng rất hay
Ăn vào tránh ói, giải ngay rượu nồng.
- Rượu vào toàn thân nóng bừng
Uống nước dưa hấu là xong thôi mà.
- Lại có trái bưởi quê ta
Hóa mùi giải rượu thật là tinh tươm.
- Rượu làm mặt đỏ, buồn nôn
Nước rau cần uống cho hồn tự nhiên.
- Rượu rồi tim đập triền miên
Chuối tiêu vài quả, giải liền cơn mê.
- Rượu xong buồn bực, vụng về
Công dụng tràn trề, đã có sữa chua.
- Trái Ô liu cũng đáng ưa
Chán ăn sau rượu, xin thưa: có mình.
Theo từng tình huống
1/ Nước mật ong: Giải rượu, trị đau đầu do rượu. Gây ngủ ngon. Còn trị mất ngủ. Pha ngọt vừa đủ uống.
2/ Nước ép cà chua: Giải chếnh choáng, váng đầu vì rượu. 1 ly khoảng ˃ 300ml, thêm chút muối ăn.
3/ Nho tươi: Giải rượu, trị buồn nôn sau rượu. Ăn trước khi uống rượu có thể chống say.
4/ Nước dưa hấu: Giải nhiệt do rượu. Cho thêm chút muối ăn khi uống.
5/ Bưởi: Chấm với đường trắng ăn để giải rượu, giải mùi hôi sau rượu.
6/ Nước rau cần: Giàu Vitamin B cần cho giải rượu. Trị tràng, vị khó chịu, mặt đỏ sau rượu. Nếu tràng, vị yếu nên uống trước để đề phòng.
7/ Chuối tiêu: Trị tim đập nhanh, tức ngực sau rượu.
8/ Sữa chua: Trị buồn nôn khó chịu sau rượu.
9/ Ô liu: Trị chán ăn sau rượu. Có thể ăn trực tiếp, hoặc hầm với đường phèn.
Kỵ:
Người ta cứ nghĩ rằng Trà có thể giải được rượu, đó là sự nhầm lẫn nhiều năm qua. Trong "Bản Thảo Cương mục" của Lý Thì Trân (TQ) và nghiên cứu của Y học hiện đại thì sau khi uống rượu mà uống trà là rất có hại cho sức khỏe. Xin viết thành bài thơ nhắc nhở sau:
Rượu xong xin chớ uống trà
Vì nó kích thích tim ta đập dồn
Ta nanh kết hợp chất cồn
Hại bàng quang, thận, hại luôn dạ dày
Lưng đau, đùi nặng, đờm đầy
Lại thêm phù thũng, có ngày cơm toi.
Ngày 14/5/2013
Nguyễn Văn Chử
TRẦN THỊ THANH LIÊM
07-06-2013, 01:58 AM
Thông Tin Y Học " RẤT HỮU DỤNG ... 2/2013 "
Thông Tin Y Học
· Thông Tin Y Học Về Vitamin D (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18072&view=findpost&p=52588)
· Thông Tin Y Học Về Vitamin C (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18120&view=findpost&p=52695)
· Thông Tin Y Học Về Vitamin B (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20108&view=findpost&p=56654)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Đái Đường (Diabetes) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18106&view=findpost&p=52671)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18152&view=findpost&p=52760)
· Thông Tin Y Học Về Giấc Ngủ (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18156&view=findpost&p=52775)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Trầm Cảm (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18157&view=findpost&p=52780)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Tiền Liệt Tuyến (Prostate Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18107&view=findpost&p=52674)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Cổ Tử Cung (cervical Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18126&view=findpost&p=52706)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Vú (breast Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18119&view=findpost&p=52694)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Buồng Trứng (Ovarian Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20830&view=findpost&p=58703)
· Thông Tin Y Học Về U Xơ Tử Cung (Fibromyomes hay Fibromes) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21216&st=0#entry60138)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Máu (Leukemia) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20839&st=0&p=58722&%20#entry58722)
· Thông Tin Y Học Về Ung Thư Dạ Dày (Stomach Cancer / Gastric Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20840&st=0&p=58723&%20#entry58723)
· Thông Tin Y Học Về Tiền Mãn Kinh (Premenopause) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20829&view=findpost&p=58702)
· Thông Tin Y Học Về Tai Biến Mạch Máu Não (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18175&view=findpost&p=52822)
· Thông Tin Y Học Về Thai Phụ & Thai Nhi (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18231&view=findpost&p=52930)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Béo Phì (Obesity) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=18280&st=0&p=53018&%20#entry53018)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18320&view=findpost&p=53098)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Xơ Cứng Rải Rác (Multiple Sclerosis) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18346&view=findpost&p=53142)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Xơ Cứng Cột Bên Teo Cơ (Charcot / Amyotrophic Lateral Sclerosis) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20970&st=0&p=59128&%20#entry59128)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Loãng Xương (osteoporosis) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20081&view=findpost&p=56610)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Hư Khớp (Arthrose) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20091&view=findpost&p=56625)
· Thông Tin Y Học Về Khoa Châm Cứu (Acupuncture) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20092&view=findpost&p=56626)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Nhầy Nhớt (mucoviscidose) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20093&view=findpost&p=56627)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Suy Tim (Heart Failure / Cardiac Insufficiency) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20095&view=findpost&p=56630)
· Thông Tin Y Học Về Ocytocine (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20096&view=findpost&p=56632)
· Thông Tin Y Học Về Thể Dục Thể Thao (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18276&view=findpost&p=53013)
· Thông Tin Y Học Về Trà (Tea) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18340&view=findpost&p=53126)
· Thông Tin Y Học Về Cafe (coffee) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18342&view=findpost&p=53128)
· Thông Tin Y Học Về Chocolate(Chocolat / Sô Cô La) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20801&st=0&p=58580&%20#entry58580)
· Thông Tin Y Học Về Rượu (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20802&st=0&p=58581&%20#entry58581)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Tự Kỷ (Autism) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20097&view=findpost&p=56634)
· Thông Tin Y Học Về Trẻ Nhỏ Xem TV (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20099&view=findpost&p=56636)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Thiên Đầu Thống (Migraine) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20101&view=findpost&p=56638)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Động Kinh (Epilepsie) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20102&view=findpost&p=56639)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=20110&view=findpost&p=56657)
· Thông Tin Y Học Về Liệu Pháp Tế Bào (Thérapie Cellulaire) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20807&view=findpost&p=58636)
· Thông Tin Y Học Về Liệu Pháp Gene (Thérapie Génique) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20815&view=findpost&p=58654)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Crohn (Crohn's Disease) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20834&view=findpost&p=58708)
· Thông Tin Y Học Về Viêm Võng Mạc Sắc Tố (Retinite Pigmentaire) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20835&view=findpost&p=58709)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Rung Nhĩ (Atrial Fibrillation / Fibrillation Auriculaire) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21292&st=0&p=60484&%20#entry60484)
· Thông tin Y Học Về Thuốc Kháng Đông (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21293&st=0&p=60485&%20#entry60485)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh SIDA (Aids Disease / HIV) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21294&st=0&p=60487&%20#entry60487)
· Thông Tin Y Học Về Giác mạc (Cornea) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21295&st=0&p=60490&%20#entry60490)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Tăng Nhãn Áp (Glaucome) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21296&st=0&p=60493&%20#entry60493)
· Thông Tin Y Học Về Hói Đầu / Sói Đầu (Calvitie) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21395&view=findpost&p=60978)
· Thông Tin Y Học Về Sữa Mẹ (Breastfeeding) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21396&view=findpost&p=60981)
· Thông Tin Y Hoc Về Nhồi Máu Cơ Tim ( Heart Attack / Myocardial Infarction / Infarctus Du Myocarde ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21397&st=0&p=60982&%20#entry60982)
· Thông Tin Y Học Về Sỏi Thận / Sạn Thận (Kidney Stones) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21457&view=findpost&p=61165)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Lạc Nội Mạc Tử Cung (Endometriosis /Endométriose) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21478&st=0&p=61242&%20#entry61242)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Thoái Hóa Hoàng Điểm do Tuổi Tác (Age-Related Macular Degeneration (AMD) ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21523&st=0&p=61356&%20#entry61356)
· Thông Tin Y Học Về Kỹ Thuật Thẩm Mỹ Căng Da Mặt ( Lifting / Facelift ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21542&st=0#entry61420)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Rối Loạn Lưỡng Cực / Bệnh Hưng-Trầm Cảm (Bipolar Disorder / Manic-Depressive Illness / Maladie Maniaco-Dépressive /Trouble Bipolaire ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21543&st=0&p=61422&%20#entry61422)
· Thông Tin Y Học Về Bệnh Ung Thư Da ( Skin Cancer ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21544&st=0&p=61423&%20#entry61423)
· Thông Tin Y Học Về Lịch Sử Y Khoa (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21571&st=0&p=61528&%20#entry61528)
· Thông Tin Y Học Về Ghép Cơ Quan / Cấy Ghép Nội Tạng ( Organ Transplant / Greffe D'organe ) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=21584&st=0&p=61605&%20#entry61605)
Các Bài Tổng Hợp Thông Tin Theo Chuyên Đề Từ Thời Sự Y Học Bổ Xung vào các topics có sẵn hoặc thông tin riêng lẻ.
· Suy Thận Mãn Tính (Chronic Kidney Disease) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=15209&st=0&p=60728&%20#entry60728)
· Ung Thư Phổi (lung Cancer) (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=15955&view=findpost&p=48621)
· Đặc Tính , Ích Lợi Của Dầu Cá đối Với Tim (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18147&view=findpost&p=52748)
· Kháng Kháng Sinh (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=15829&view=findpost&p=48398)
· Giảm Dùng Muối Giúp Nhiều Cho Tim (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18146&view=findpost&p=52747)
· Nước Ép Trái Cây Làm Giảm Hiệu Quả Thuốc (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18108&view=findpost&p=52676)
· Sành Ăn Nhưng Vẫn Gìn Giữ Trái Tim Không Bị Bịnh (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18151&view=findpost&p=52759)
· Đàn Ông Đàn Bà ... Ai Nói Nhiều Hơn Ai ??? (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18133&view=findpost&p=52717)
· Dùng Aspirine Trong Tai Biên Mạch Máu Não (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=10550&view=findpost&p=39092)
· Triệt Sản Phụ Nữ : Một Kỹ Thuật Bịt Vòi Trứng (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18228&view=findpost&p=52925)
· Nha Chu Là Gì? (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18214&view=findpost&p=52885)
· Các Loại Dược Phẩm trị bịnh Mất Ngủ (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=14718&view=findpost&p=45576)
· Tái Tạo Một Chiếc Răng Bằng Những Tế Bào Gốc (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18277&view=findpost&p=53014)
· Niềm Hạnh Phúc Có Tính Lây Nhiễm Và Lan Truyền Giữa Bạn Bè (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18278&view=findpost&p=53015)
· Thông Tin về Sử Dụng Muối Ăn (http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?s=&showtopic=18146&view=findpost&p=52747)
Tự Điển Y Học.
Ánh nắng hại cho da (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/anhnanghai.html)Ăn nhiều hành tỏi có thể ngừa bệnh ung thư - BS Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/annhieuhanhvatoi.html)Ánh sáng ở mọi nơi - BS Thái Minh Trung (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/anhsangomoinoi.html)Bệnh do thức ăn nước uống - BS Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/benhdothucan.html)Bệnh viêm gan C - Bác sĩ Nguyễn văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/benhviemganc.html)Bệnh viêm gan B (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/benhviemganb.html)Các biến chứng của bịnh tiểu đường (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/cacbienchungcuabinhtieuduong.html)Cà rót , nhân sâm của người nghèo (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/carot.html)Da mùa lạnh (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/damualanh.html)Gãy xương hông ở các vị có tuổi - BS Nguyễn Khắc Đoan (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/gayxuonghong.html)Ho (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/ho.html)Hôi miệng (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/hoimieng.html)Khạc ra máu (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/khacramau.html)Khám tổng quát (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/khamtongquat.html)Lanh quá ! Lạnh quá ! BS Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/lanhqua.html)Ngứa mùa Đông (Winter itch) - Bác sĩ Nguyễn văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/nguamuadong.html)Ngừa sưng phổi : Pneumococcus - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/nguasungphoi.html)NổI mề đay (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/noimeday.html)Rụng tóc (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/rungtoc.html)Rung tâm nhĩ ( Các vị cao niên cần đọc bài nầy ) (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/rungtamnhi.html)Sưng phổi (Pneumonia) - Bác Sĩ Nguyễn văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/sungphoi.html)Sưng ruột dư ( Appendicitis ) - BS Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/sungruotdu.html)Tai biến mạch máu nảo - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức (http://dalanphim.com/ykhoathuongthuc/taibienmachmaunao.html)
Bộ Sưu Tập Về Những Phương Thuốc Quý của Người Việt.
Phục dương đại bổ tửu (http://batkhuat.net/yhoc-phucduong-daibotuu.htm)
Toa rượu thuốc Minh Mạng (http://batkhuat.net/yhoc-toaruouthuoc-minhmang.htm)
11 bài thuốc trị bệnh bất lực (http://batkhuat.net/yhoc-11baithuoc-trichung-batluc.htm)
Bài thuốc trị Gout (http://batkhuat.net/yhoc-toathuoc-tri-gout.htm)
Bài thuốc hữu hiệu để giảm máu cao, mỡ cao (http://batkhuat.net/yhoc-thuocgiam-maumo.htm)
Chữa phỏng (http://batkhuat.net/yhoc-chuaphong.htm)
Huyết áp thấp (http://batkhuat.net/yhoc-huyetapthap.htm)
Nấm sữa Kefir (http://batkhuat.net/yhoc-namsua-kefir.htm)
Tỏi với sức khỏe (http://batkhuat.net/yhoc-toivoi-suckhoe.htm)
Thuốc trong rau (http://batkhuat.net/yhoc-thuoc-trongrau.htm)
Bệnh cúm heo (http://batkhuat.net/yhoc-benhcumheo.htm)
Cập nhật về bệnh ung thư (http://batkhuat.net/yhoc-capnhat-vebenh-ungthu.htm)
Trị bệnh đau ngang thắt lưng (http://batkhuat.net/yhoc-tribenh-dauthatlung.htm)
Tin vui cho người bệnh nghèo (http://batkhuat.net/yhoc-tinvui-chonguoibenh.htm)
Huấn thị điều hành căn bản cho người cao niên (http://batkhuat.net/yhoc-9dieu-nentranh.htm)
Sơ Gan (http://batkhuat.net/yhoc-sogan.htm)
Cây Sả chữa bệnh ung thư!!! (http://billyteoh.wordpress.com/2008/06/24/fresh-lemon-grass-drink-causes-apoptosis-to-cancer-cells/)
Cholesterol Tốt, Xấu ... (http://batkhuat.net/yhoc-cholesterol-tot-xau.htm)
5 phương pháp tập thể dục buổi sáng (http://batkhuat.net/yhoc-tapthuduc-buoisang.htm)
Chữa bệnh Gout không cần thuốc (http://batkhuat.net/yhoc-chuabenh-gout-khongcanthuoc.htm)
Bệnh Dời Bò (Shingle) (http://batkhuat.net/yhoc-benh-doibo..htm)
Toa thuốc trị cao máu và mỡ trong máu (http://batkhuat.net/yhoc-caomau-motrongmau.htm)
Trị Cholesterol bằng lá Aloe-Vera (http://batkhuat.net/yhoc-tri-cholesterol-aloe-vera.htm)
Trị bệnh bằng "Đậu Đen" (http://batkhuat.net/yhoc-tribenh-bang-dauden.htm)
Thuốc xông chữa cảm cúm (http://batkhuat.net/yhoc-thuocxong-chua-camcum.htm)
Phương pháp cầm máu dị thường (http://batkhuat.net/yhoc-phuongphap-cammau-dithuong.htm)
Bệnh Gout đến từ đâu (http://www.hatcat79.com/Yhoc/Benhgout.htm)
Dùng "dấm táo & mật ong" để trị bá bênh (http://batkhuat.net/yhoc-dung-damtao-matong.htm)
Heart attacks and drinking warm water (http://batkhuat.net/yhoc-heartattacks-drinking-warmwater.htm)
Tắm âm dương (http://batkhuat.net/yhoc-tam-amduong.htm)
Canh chua bạc hà - Gây chứng bệnh Gout (http://batkhuat.net/yhoc-canhchua-bacha-loihai-kholuong.htm)
Lá dứa trị bệnh tiểu đường (http://batkhuat.net/yhoc-ladua-tri-tieuduong.htm)
Cây Aloe Vera (http://batkhuat.net/yhoc-cay-aloe-vera.htm)
Những lợi ích về việc đi bộ (http://batkhuat.net/yhoc-loiich-dibo.htm)
Nước gạo lức, thần dược !!! (http://batkhuat.net/yhoc-nuoc-gaoluc.htm)
Với cây kim, ta có thể cứu người (http://batkhuat.net/yhoc-cuunguoi-bangcaykim.htm)
Làm thế nào để khỏi già ? (http://batkhuat.net/yhoc-lamthenao-khoigia.htm)
Thuốc trị tê bại, đau nhức ... (http://batkhuat.net/yhoc-tri-tebai-daunhuc.htm)
Thuốc thần chữa bệnh "gout" (http://batkhuat.net/yhoc-chuabenh-gout.htm)
Những toa thuốc "mẹo" (http://batkhuat.net/yhoc-toathuoc-bathuu.htm)
Khám phá mới về gạo lức (http://batkhuat.net/yhoc-gaoluc.htm)
Viêm gan (http://batkhuat.net/yhoc-viemgan.htm)
TRẦN THỊ THANH LIÊM
07-06-2013, 02:28 AM
Làm thế nào để khỏi già ?
Tác giả: Lê Tấn Tài
Khi nào các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa? Già là một điều không ai tránh khỏi. Hiện nay các viện nghiên cứu y khoa đã cho biết một cách chính xác các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa từ lúc nào.
Các bác sĩ người Pháp đã tìm thấy chất lượng tinh trùng bắt đầu suy thoái từ tuổi 35, bởi thế khi người đàn ông 45 tuổi thì một phần ba số lần mang thai sẽ dẫn đến sảy thai. Angela Epstein đã viết trong DailyMail, tuổi của các bộ phận trong cơ thể bắt đầu suy thoái như sau :
1./ Não bắt đầu suy thoái lúc 20 tuổi. Khi chúng ta trưởng thành, các tế bào não bị giảm dần. Và não cũng teo nhỏ lại. Khởi đầu con người có 100 tỉ tế bào não, nhưng đến tuổi 20 con số nầy giảm dần, và đến tuổi 40 con người mất mỗi ngày 10.000 tế bào ảnh hưởng rất nhiều đến trí nhớ và có tác dụng rất lớn đến tâm sinh lý người già.
2./ Ruột bắt đầu suy giảm từ tuổi 55. Ruột tốt có sự cân bằng giữa các vi khuẩn có ích và có hại. Vi khuẩn có ích sẽ giảm đi đáng kể sau tuổi 55, đặc biệt ở phần ruột già. Sau 55 tuổi bộ tiêu hóa bắt đầu xấu đi và sẽ gây hại cho các bệnh đường ruột. Táo bón là một bệnh thông thường của tuổi già, cũng như dịch vị từ bao tử, gan, tuyến tuỵ, ruột non bị suy giảm .
4./ Bọng đái bắt đầu suy thoái từ tuổI 65. Người già thường mất kiểm soát bọng đái. Nó bắt đầu co lại đột ngột, ngay cả khi không đầy. Phụ nữ dễ gặp trục trặc này hơn khi chấm dứt kinh nguyệt. Khả năng chứa nước tiểu của bọng đái một người già chỉ bằng nửa so với người trẻ tuổi, khoảng 2 cốc ở tuổi 30 và 1 cốc ở tuổi 70. Ðiều này khiến người già phải đi tiểu nhiều hơn, và dễ nhiễm trùng đường tiểu.
5./ Vú bắt đầu thoái hóa từ năm 35 tuổi. Khi người đàn bà đến 30 tuổi thì vú mất dần các mô và mở, sự đầy đặn và kích cở của bộ vú bị suy giảm. Khi 40 tuổi núm vú bị teo lại và vú thòng xuống.
6./ Phổi lão hóa từ tuổi 20. Sụn sườn vôi hóa, lồng ngực biến dạng, khớp cứng ảnh hưởng tới thở, nhu mô phổi giảm đàn hồi, giãm phế nang. Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40 có nhiều người đã bắt đầu khó thở vì các cơ bắp và xương sườn buồng phổi bắt đầu xơ cứng .
7./ Giọng nói bắt đầu yếu và khàn kể từ tuổi 65. Phụ nữ có giọng khàn và nhỏ trong khi đàn ông giọng cao và nhẹ.
8./ Mắt lão hóa từ năm 40 và phần lớn phải mang kiếng, không còn nhìn rõ một vật ở xa. Khả năng tập trung của mắt kém hơn do cơ mắt yếu hơn.
9./ Tim lão hóa từ tuổi 40. Khối lượng cơ tim giảm. Tuần hoàn nuôi cơ tim cũng giảm, suy tim tiềm tàng, huyết áp tăng dần. Sức bơm của tim giảm dần vì các mạch máu giảm sự đàn hồi. Các động mạch cứng dần và bị mở đóng vào các thành mạch. Máu cung cấp cho tim cũng bị giảm bớt. Ðàn ông 45 tuổi và đàn bà 55 dễ bị đau tim.
10./ Gan lão hóa từ năm 70. Chức năng chuyển hóa và giải độc giảm. Tuy nhiên gan là một bộ phận gần như không chịu khuất phục tuổi tác. Người ta có thể ghép gan của một ông già 70 tuổi cho một người 20 tuổi.
11./ Thận lão hóa năm 50. Số đơn vị lọc chất thải khỏi máu bắt đầu giảm xuống ở tuổi trung niên.
12./ Tuyến tiền liệt lão hóa vào năm 50. Hệ thống sinh dục nam gồm có: tinh hoàn và bộ phận sinh dục phụ như đường dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, túi tinh và dương vật. Tuyến tiền liệt thường lớn dần theo tuổi tác. Khi tuyến tiền liệt tăng kích thước sẽ ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó.
13./ Xương lão hóa hóa vào tuổi 35. Cho đến giữa những năm 20 tuổi, mật độ xương vẫn còn tăng. Trẻ em xương lớn rất nhanh, cứ mỗi 2 năm lại thay đổi toàn bộ xương củ nhưng đến tuổi 35 thì xương đã lão, hiện tượng mất xương bắt đầu như một quá trình già cả tự nhiên.
14./ Răng suy từ tuổi 40. Răng bị hao mòn. Dễ bị bệnh nha chu. Niêm mạc bị teo dần.
15./ Bắp thịt lão hóa từ năm 30. Thông thường bắp thịt khi bị lão hoá thì được tái tạo ngay, nhưng đến tuổi 30 thì tái tạo ít hơn là lão hóa. Ðến tuổi 40, mỗi năm bắp thịt bị sút giảm từ 0.5 đến 2 % . Vì thế người già khó giữ thăng bằng, trở thành chậm chạp, dễ bị ngã và gẫy xương.
16./ Nghe [thính giác] giảm đi kể từ giữa năm 50. Rất nhiều người bị lãng tai kể từ năm 60.
17./ Da suy giảm kể từ năm 20. Chúng ta đã giảm dần việc sản xuất chất keo dính của da từ giữa tuổi 20. Việc thay thế các tế bào chết cũng chậm dần.
18./ Vị giác và khứu giác giảm từ năm 60. Thông thường chúng ta có thể nếm được 100.000 vị trên lưởi. Các vị này chúng ta chỉ nếm được phân nửa khi già và đến tuổi 60 thì không còn ngửi và nếm một cách chính xác được nữa.
19./ Sinh sản mất khả năng từ năm 35. Khả năng sinh nở của phụ nữ bắt đầu giảm sau tuổi 35, vì số lượng và chất lượng trứng trong tử cung giảm xuống.
20./ Tóc lão hóa từ tuổi 30. Thông thường cứ 3 năm thì tóc cũ sẽ được thay thế toàn bộ tóc mới. Và đến năm 35 tuổi thì tóc không còn đen nhánh nữa mà ngã màu đen xám và rụng dần đi.
Làm thế nào để làm chậm sự lão hóa ?
Già không phải là một bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển; cần chú ý một số đặc điểm sau:
- Người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, có bệnh dễ phát hiện, nhưng cũng có bệnh rất kín đáo, tiềm tàng, nguy hiểm.
- Triệu chứng ít khi điển hình, không ồ ạt, không rõ rệt, nên khó chẩn đoán, dễ sai lạc nếu ít kinh nghiệm.
- Khả năng phục hồi sức khỏe sau các trận ốm thường chậm hơn so với người trẻ, nên sau điều trị phải có thời gian an dưỡng.
Một số biện pháp làm giảm tốc độ lão hóa:
Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu.
Vì thế muốn giảm tốc độ lão hóa cần phải:
Về tư tưởng luôn luôn lạc quan yêu đời, chủ động gạt bỏ những cái làm ảnh hưởng đến bộ não, hạn chế tối đa nỗi cô đơn, giải quyết tốt nhất mối quan hệ xã hội và gia đình, có triết lý sống đúng; phải chú ý cả 3 vấn đề: lẽ sống, lối sống và hành động sao cho khoa học văn minh để loại trừ 7 nguyên nhân gây bệnh của Ðông y là : hỷ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng.
Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
Thường xuyên luyện tập đều đặn về trí tuệ và thể lực như đọc sách báo, nghe đài, xem TV, internet… đồng thời tập thể dục thể thao, đi bộ, tập thở, tĩnh tâm thư giãn, v.v… phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe từng người.
Sinh hoạt điều độ, không làm gì quá sức bình thường, giữ gìn trạng thái cân bằng giữa ngủ và nghỉ, giữa ăn và làm, giữa trí óc và chân tay, giữa trong nhà và ngoài trời, giữa lười và chăm, v.v… cũng rất quan trọng.
Ăn uống đúng và đủ theo khả năng của mình, không nên nghiện bất cứ thứ gì, hạn chế thịt nhất là mỡ, ăn nhiều rau quả tươi, giảm chất bột, giảm bánh kẹo, bảo đảm cân bằng thức ăn âm và dương, giữ người không béo và cũng không gầy. Nên nhớ con người là giống ăn ngũ cốc, nên thức ăn cho người phải 80% là ngũ cốc còn 20% là rau quả và các thứ khác, không nên ăn quá no, người già rất cần đạm ở đậu tương, vừng lạc, tôm cua, ốc hến…
Cần có môi trường sống tự nhiên tốt, phần lớn các cụ sống 100 tuổi trở lên đều ở vùng núi, ở nông thôn còn ở thành phố thì rất ít và gốc cũng không phải thành thị. Hiện nay môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng đó là tự hủy hoại mình (chặt cây, phá rừng, chất thải, phân hóa học, thuốc trừ sâu….) đã làm mất đi cảnh thanh bình của thiên nhiên, là điều cũng nên hết sức tránh.
Kiên trì áp dụng 10 bài học về sức khỏe của Nhật Bản, đất nước được mệnh danh là 'vương quốc của tuổi thọ' vì có tuổi thọ cao nhất thế giới hiện nay. 10 bài học đó là:
- Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau
- Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua
- Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả
- Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa
- Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần
- Bớt đi xe, năng đi bộ
- Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn
- Bớt nóng giận, cười nhiều hơn
- Bớt nói, làm nhiều hơn
- Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn.
Những bài học trên có tác dụng rất lớn đối với những người bị tăng huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan…
Tóm lại:
Biết cách sống, ta có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài được tuổi thọ, có thể điều chỉnh được chiếc đồng hồ sinh học trong con người chúng ta chạy chậm lại, ta cũng có thể giữ bộ máy cực kỳ tinh vi của ta được bền vững lâu dài hơn.
TRẦN THỊ THANH LIÊM
01-08-2013, 11:24 AM
KHOA HỌC (http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/)
Thứ tư, 11/7/2012, 17:00 GMT+7
file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image001.gif (http://vnexpress.net/Service/Share/?sjid=1002280270&sid=1&myurl=http%3A//www.facebook.com/share.php%253fu%3Dhttp%3A//vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/07/ngoi-nhieu-chong-chet/%2526t%3DNg%E1%BB%93i+nhi%E1%BB%81u+ch%C3%B3ng+ch% E1%BA%BFt%27) file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image002.gif (http://vnexpress.net/Service/Share/?sjid=1002280270&sid=3&myurl=http%3A//twitter.com/home%253fstatus%3DNg%E1%BB%93i+nhi%E1%BB%81u+ch%C3 %B3ng+ch%E1%BA%BFt%20-%20http%3A//vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/07/ngoi-nhieu-chong-chet/%27) file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image003.gif (http://vnexpress.net/Service/Share/?sjid=1002280270&sid=2&myurl=http%3A//www.google.com/bookmarks/mark%253fop%3Dedit%2526amp%3Bbkmk%3Dhttp%3A//vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/07/ngoi-nhieu-chong-chet/%26amp%3Btitle%3DNg%E1%BB%93i+nhi%E1%BB%81u+ch%C3% B3ng+ch%E1%BA%BFt%26amp%3Bannotation%3DNg%E1%BB%93 i+nhi%E1%BB%81u+ch%C3%B3ng+ch%E1%BA%BFt) file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image004.gif E-mail file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image005.gif Bản In
Ngồi nhiều chóng chết
Dành quá nhiều thời gian trong ngày cho việc ngồi có thể khiến tuổi thọ của con người giảm đáng kể.
file:///C:/Users/7_PRO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image006.jpg
Tuổi thọ của con người có thể giảm tới hai năm nếu chúng ta ngồi nhiều hơn ba giờ mỗi ngày. Ảnh: blogspot.com.
Các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Sinh dược Pennington tại thành phố Baton Rouge, bang Louisiana, Mỹ muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa thời gian ngồi và tuổi thọ của con người. Họ phân tích 5 nghiên cứu liên quan tới khoảng 167.000 người trong khoảng thời gian từ 4 tới 14 năm. Những nghiên cứu này không xem xét lối sống của từng người, mà chỉ thu thập thông tin về thời gian ngồi một chỗ mỗi ngày, thói quen hút thuốc lá, tần suất tập luyện thể dục trong ngày, BBC đưa tin.
Kết quả cho thấy nếu thời gian ngồi trung bình mỗi ngày lớn hơn ba giờ thì tuổi thọ của đối tượng nghiên cứu có thể giảm tới hai năm. Với những người xem tivi hơn hai giờ mỗi ngày, tuổi thọ của họ giảm 1,4 năm. Xu hướng này đúng với cả những người thường xuyên vận động thể chất và không nhiễm những thói quen có hại như hút thuốc lá.
“Hãy cố gắng đứng lên và di chuyển mỗi khi bạn có cơ hội. Chẳng hạn, thay vì gửi thư điện tử cho ai đó, bạn nãy đứng dậy và gọi điện thoại tới họ”, Peter T. Katzmarzyk, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, phát biểu.
Song Katzmarzyk nhấn mạnh khi con người ngồi, các cơ đùi hoàn toàn không hoạt động.
“Khi bạn ngồi và hoàn toàn không vận động, cơ thể bạn sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát đường glucose trong máu”, Katzmarzyk giải thích.
Tuy nhiên, Katzmarzyk thừa nhận rằng một trong những điểm hạn chế của nghiên cứu là phần lớn người tham gia chỉ ước đoán thời gian ngồi mỗi ngày, chứ các nhà khoa học không đo cụ thể.
Một nghiên cứu của các nhà khoa học Australia, được công bố hai năm trước, cho thấy những người xem tivi nhiều hơn 4 giờ mỗi ngày đối mặt với nguy cơ đột tử và chết vì bệnh tim mạch cao gấp lần lượt 46% và 80% so với những người chỉ chỉ dành dưới 2 giờ để xem.
Năm ngoái các nhà khoa học phát hiện rằng những người làm các công việc ít vận động trong 10 năm có nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột kết cao hơn 44% so với những người làm những công việc đòi hỏi vận động liên tục trong cùng khoảng thời gian. Ngoài ra nguy cơ mắc ung thư ruột thẳng của những người ít vận động cũng cao hơn.
“Nếu các thế hệ tương lai vận động nhiều hơn chúng ta, có lẽ họ sẽ sống lâu hơn. Nhưng ngày nay rất ít người trên thế giới ngồi ít hơn ba giờ mỗi ngày. Vì thế nó là một mục tiêu quá lạc quan”, giáo sư David Spiegelhalter, một chuyên gia về tính toán rủi ro của Đại học Cambridge tại Anh, bình luận về nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Sinh dược Pennington.
Minh Long
TRẦN THANH HƯƠNG
01-08-2013, 08:20 PM
Mì ăn liền và những cảnh báo nên biết với sức khỏe
Cách đây 31 phút
Dùng mì ăn liền quá nhiều trong thời gian dài sẽ khiến bạn đối diện với nhiều bệnh tật đấy nhé!
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-1-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-2-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-3-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-4-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-5-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-6-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/ZD5cMc7HnEEuCCeDVIfk7sLj0BxIn/Image/2013/07/mi-7-36343/mi-an-lien-va-nhung-canh-bao-nen-biet-voi-suc-khoe.jpg
Nguồn: kenh14.vn (http://kenh14.vn/)
TRẦN THỊ THANH LIÊM
18-08-2013, 04:20 PM
Xin mời chia sẻ để có biện pháp phòng ngừa!
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Mời xem bài của bác sĩ Trần Đình Hoàng phía dưới về nguyên nhân của Tai Biến Mạch Máu Não.
TBMMN không phải là một "bệnh" mà vị lang băm nào lại phổ biến lấy "toa thuốc bắc"; ấp vào chân (ngoài da) chỉ một lần trong đời là tránh được TBMMN !?
Tôi cũng có thằng em kết nghĩa bị Stroke Vỡ Đầu (Tai Biến Mạch Máu Não) chết ở tuổi ngoài 40 trong khi đang ngủ. Theo bài viết của Bác sĩ TĐ Hoàng thì biến chứng do sự tắc nghẽn của mạch máu trên đầu hay dưới chân. Do đó theo dõi cao máu và cao mỡ Cholesterol và Triglyceride bằng cách ăn uống và thể dục để ngừa biến chứng chết người hay làm bán thân bất toại (liệt nửa người).
Thân kính
Hỏi: Tai Biến Mạch Máu Não (TBMMN) là gì?
Đáp: TBMMN tiếng Anh gọi là stroke hay cerebrovascular accident (CVA) xảy ra lúc mạch máu đem dưỡng khí và chất dinh dưỡng đến nuôi não bị vỡ ra hay nghẽn lại. Lúc não thiếu máu như vậy, dưỡng khí sẽ bị thiếu và tế bào não sẽ chết đi.
Hỏi: Bệnh TBMMN có thường xảy ra không?
Đáp: Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 730,000 trường hợp mới của bệnh TBMMN. Theo thống kê năm 2000 ở Úc, mỗi năm có 12,000 người chết vì bệnh TBMMN so với 24,000 người chết vì bệnh tim. Càng lớn tuổi càng dễ bị TBMMN. Trên thế giới từ thập niên 70s, số tử vong do TBMMN giảm xuống còn 7% mỗi năm nhờ sự hữu hiệu của việc điều trị bệnh cao huyết áp.
Hỏi: Có dễ bị TBMMN lần thứ hai không?
Đáp: Rất dễ bị TBMMN lần thứ hai. Trong vòng 5 năm kể từ lần bị đầu tiên có từ 1/3 đến ở số người sống sót sẽ bị TBMMN lần thứ hai. Có nghĩa là 34% đến 50% (hay 1 trong 2 hay 3 người sẽ bị TBMMN lần thứ hai).
Hỏi: Bệnh TBMMN được phân loại như thế nào?
Đáp: Bệnh TBMMN đuợc chia thành nhiều loại chính dựa trên sự hư hại của mạch máu: mạch máu bị nghẽn hay mạch bị vỡ làm chảy máu trong đầu. Vì mỗi loại TBMMN có cách điều trị khác nhau cho nên các BS cần định bệnh sớm và xác định loại nào và nơi hư hại một cách chính xác. Loại nghẽn mạch máu gây ra sự thiếu máu đến não (tiếng Anh gọi là ischemic stroke) có thể do máu đông tại chỗ "thrombotic stroke" hay bị nghẽn vì cục máu chuyển đi từ nơi khác trong thân thể "embolic stroke"
<img style="border-width: 0px;" align="right" border="0" hspace="5" vspace="5">53% TBMMN thuộc loại thrombotic stroke
31% thuộc loại embolic stroke
13% do chảy máu trong sọ
6% do chảy máu dưới màng nhện trong vỏ não.
Hỏi: Có bệnh nào gây ra chảy máu trong TBMMN?
Đáp: Mạch máu bị vỡ làm cho thiếu máu ở vùng não sau nơi vỡ và các tế bào não bị chết đi. Ngoài ra, máu chảy ra đông lại thành cục có thể đẩy lệch các cơ cấu của não và làm hư hại các chức năng của não bộ. Có 2 loại chảy máu trong đầu: một là chảy máu dưới màng nhện; hai là chảy máu trong sọ. Loại chảy máu dưới màng nhện có thể do bệnh mạch lựu (nở động mạch- aneurysm) hay do tật động tĩnh mạch bẩm sinh - arteriovenous malformations (AVM).
Hỏi: Xin mô tả các triệu chứng báo hiệu bệnh TBMMN
Đáp: BS của quí vị có thể tìm thấy các dấu hiệu cho thấy quí vị dễ bị TBMMN. Quí vị cũng có thể được báo hiệu bởi các triệu chứng của bệnh TBMMN như sau:
1. tự nhiên thấy yếu, tê rần hay liệt tay chân hay mặt nhất là nếu bị một phiá của thân thể
2. mất khả năng nói hay khó nói hay không hiểu ngôn ngữ
3. đột nhiên mất thị giác nhất là ở một mắt.
4. đột nhiên nhức đầu dữ dội không có nguyên nhân
5. đột nhiên chóng mặt, mất thăng bằng.
<img style="border-width: 0px;" border="0" hspace="5" vspace="5">
Hỏi: Thế nào là cơn thiếu máu tạm thời (TIA: transient ischemic attack)?
Đáp: Khoảng 1/3 các trường hợp TBMMN được báo hiệu trước bằng cơn thiếu máu tạm thời, tiếng Anh gọi tắt là TIA (Transient Ischemic Attack). TIA có thể xảy ra trước TBMMN vài ngày, vài tuần hay vài tháng. TIA xảy ra do sự tạm thời ngưng cung cấp máu lên não. Triệu chứng thường ngắn hạn từ vài phút đến vài giờ. Chẳng hạn quí vị đột nhiên thấy yếu tay hay yếu chân rồi tự nhiên triệu chứng biến mất. Đó là triệu chứng báo hiệu quan trọng, quí vị phải đi khám BS ngay.
Hỏi: Có liên hệ gì giữa thuốc ngừa thai và bệnh TBMMN?
Đáp: Thuốc ngừa thai đặc biệt là loại chứa nhiều estrogen làm tăng gia hiểm nguy đông máu có thể gây ra bệnh TBMMN, nhất là ở phụ nữ trên 30 tuổi.
Hỏi: Các yếu tố gây bệnh TBMMN?
Đáp: Có nhiều yếu tố gây hiểm nguy của bệnh TBMMN như: tuổi tác, tính phái, sắc dân và bệnh sử gia đình.
Càng lớn tuổi càng dễ bị TBMMN; 2/3 các trường hợp xảy ra ở người trên 65 tuổi. Bệnh TBMMN xảy ra ở đàn ông 25% nhiều hơn đàn bà. Người Mỹ da đen bị TBMMN nhiều hơn người da trắng.
Ngoài ra cũng có nhiều yếu tố có thể thay đổi được trong việc gây bệnh TBMMN như chữa trị bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, không hút thuốc lá, giữ cho người không quá mập, tăng gia thể dục thể thao, ăn uống điều độ, giảm cholesterol hay tránh thuốc ngừa thai ở phụ nữ dễ bị đông máu.
Hỏi: Các phương pháp mới để định bệnh TBMMN?
Đáp: Trong bệnh TBMMN, định bệnh sớm và chính xác rất quan trọng. Các phương cách định bệnh hiện đại sau đây được dùng để định bệnh TBMMN:
1. hình cắt lát CT scan là phương cách đầu tiên cho người bệnh ở phòng cấp cứu. CT scan giúp phân biệt nhanh chóng loại TBMMN do nghẽn mạch hay do chảy máu.
2. Hình MRI giúp xác định chính xác vị trí hư hại trong bệnh TBMMN. Hình rất bén nhậy cho nên thường dùng trong các bệnh TBMMN do các mạch nhỏ
3. MRA, để tìm xem nơi chảy máu và phân loại
4. Transcranial Dopler
5. Carotid Duplex Scanning để xem động mạch ở cổ có bị nghẽn không
6. Xenon CT scan dùng để đo lưu lượng máu trong não
7. Radionuclide SPECT Scanning dùng chất phóng xạ để đo lưu lượng máu trong não.
8. Hình chụp mạch máu não có thể cho biết tình trạng của các mạch máu não.
Bác sĩ Trần Đình Hoàng
.................................................. ............................
Thuốc Aspirin và Công Dụng
http://dactrung.net/css/images/greendot.gif John Hậu Liên, MD
Thuốc Aspirin còn được gọi là acetylsalicylic acid, một loại thuốc trị đau nhức thông thường. Thuốc Aspirin đã được dùng từ thế kỷ thứ 5 trước Dương Lịch. Ông Hippocrates tìm được thuốc Aspirin từ vỏ cây liễu và dùng Aspirin để trị đau nhức và bệnh sốt. Salicin, loại thuốc đầu tiên trong gia đình salicylate, đã được lọc tinh chất ra từ vỏ cây willows năm 1829. Từ Salicin ra thuốc Sodium salicylate, một loại Aspirin thô sơ, dùng trị phong thấp và đau nhức.
Thuốc Sodium salicylate đã không được thông dụng vì nó làm dạ dầy rất khó chịu và đau bụng. Năm 1897, một Hóa học gia tên Felix Hoffman làm cho thuốc Aspirin thành thông dụng. Ông Hoffman làm cho hãng Bayer đã dùng Sodium salicylate để trị bệnh phong thấp cho cha của ông. Vì thuốc Sodium salicylate làm đau bụng và khó chịu bao tử, ông Hoffman biến chế thuốc Sodium salicylate thành Acetylsalicylate hay Aspirin (ASA). Từ đó, thuốc ASA trở thành thuốc trị đau nhức được bác sĩ dùng nhiều nhất.
Tuy nhiên, bác sĩ không hiểu rõ tại sao thuốc Aspirin lại có công dụng làm giảm đau nhức. Mãi cho tới năm 1970, một Dược sĩ người Anh tên John Vane mới khám phá ra công dụng của thuốc Aspirin là làm giảm lượng kích thích tố Prostaglandin, một chất được tiết ra ở các tế bào khi bị thương làm chỗ bị thương bị sưng và đau. Aspirin còn ngăn cản hiệu lực của tiểu cầu (platelet). Nhiệm vụ của tiểu cầu là làm cho máu đông lại khi cơ thể bị thương chảy máu do đó Aspirin lại có thêm công dụng làm loãng máu.
Bệnh mạch máu vành tim thường bị gây ra là vì máu dễ bị đông trong các mạch máu vành tim, làm cho máu không lưu thông được để đưa dưỡng khí và các dinh dưỡng cho tế bào tim, làm cho tim bị hư và chết đi. Thành ra với công hiệu làm loãng máu khiến máu không đông, thuốc Aspirin trở thành thuốc tim sau khi công dụng loãng máu được phám phá bởi ông John Vane. Vì bệnh nhồi máu cơ tim và bệnh tai biến mạch máu não có liên hệ đến máu đông, thuốc Aspirin trở nên rất cần thiết cho những bệnh nhân này.
Công dụng của thuốc Aspirin:
Trị đau nhức và sưng vì bất cứ lý do gì. Thí dụ như sưng vì thấp khớp, trặc chân, tay.
Trị đau tim vì bị nghẽn mạch vành tim.Õ
Trị bệnh tai biến mạch máu não (stroke hay brain attack).
Trị bệnh rung tâm nhĩ (atrial fibrillation).
Trị bệnh sưng màng bọc tim (pericarditis).
Trị bệnh sốt Rheumatic (rheumatic fever).
Dùng cho những bệnh nhân đã mổ nối mạch máu vành tim (coronary artery bypass).
Dùng cho những bệnh nhân đã được thông tim (cardiac angioplasty) hay được đặt ống lò xo stent trong mạch tim.
Dùng cho những bệnh nhân bị nghẽn mạch vành tim (coronary artery stenosis).
Dùng cho những bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim (heart attack).
Dùng cho những bệnh nhân bị bệnh van tim (cardiac valvular disease) mà lại không uống thuốc loãng máu mạnh Coumadin được.
Nghiên cứu cho thấy thuốc Aspirin không những chỉ chữa bệnh nhưng còn phòng và giúp giảm tỷ lệ bị bệnh tim hay tai biến mạch máu não cho những bệnh nhân dễ bị bệnh tim hay tai biến mạch máu não.
Những người nên uống thuốc Aspirin để ngừa và giảm bị bệnh tim và tai biến mạch máu não:
Những bệnh nhân đàn ông trên 40 tuổi bị bệnh tiểu đường (diabetes), cao huyết áp (high blood pressure), cao mỡ cholesterol, hút thuốc, nên uống thuốc Aspirin 75 mg hay 165 mg để phòng bệnh tim.
Những bệnh nhân phái nữ trên 50 tuổi và có những yếu tố tương tự cũng nên uống lượng Aspirin 75 mg hay 165 mg này.
Mọi người trên 50 tuổi có thể uống thuốc Baby Aspirin (81 mg) để phòng bệnh.
Cũng như bất cứ các loại thuốc khác, thuốc Aspirin cũng có những phản ứng phụ (side effects) cho người dùng. Phản ứng phụ của Aspirin:
Gây ra loét hay sưng dạ dầy.
Làm đau bụng nhưng không loét.
Làm dễ chảy máu ruột hay những nơi khác trong người.
Làm ngứa hay nổi mề đay nếu bị kị thuốc Aspirin.
Gây ra bệnh Reyes syndrome cho những em bé khi dùng trong lúc các em bị cảm, nóng sốt.
Những bệnh nhân không nên uống thuốc Aspirin:
Những bệnh nhân bị chảy máu ruột, dạ dầy, đầu, hay những chỗ khác trong cơ thể.
Bệnh nhân bị loét hay sưng dạ dầy.
Những bệnh nhân bị ợ chua thường (gastroesophageal reflux disease).
Bị ngứa hay đau bụng nếu uống Aspirin.
Những bệnh nhân đang uống thuốc loãng máu Coumadin (ngoại trừ những bệnh nhân dễ hay bị đông máu nặng và được bác sĩ khuyên nên uống cả hai loại).
Những trẻ con.
Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như bệnh nhân đi mổ tim hay nhổ răng, bác sĩ thông thường khuyên bệnh nhân nên ngưng uống Aspirin khoảng 7 tới 10 ngày trước khi đi mổ để tránh bị chảy máu sau khi mổ hay nhổ răng.
Tóm lại, thuốc Aspirin có nhiều công dụng chứ không phải chỉ dùng làm thuốc đau nhức như đa số bệnh nhân nghĩ. Thuốc Aspirin có khi được gọi là thuốc tiên vì trị được nhiều bệnh hiểm nghèo như bệnh nhồi máu cơ tim và cũng làm giảm tỉ lệ tai biến mạch máu não.
Bác sĩ John Hậu Liên, tốt nghiệp Y khoa tại UC Irvine và tốt nghiệp Chuyên khoa bệnh Nội Thương và Chuyên khoa bệnh Tim và Huyết Quản tại Saint Mary Medical Center. Bác sĩ Hậu hiện đang hành nghề tư tại San Jose, California.
Loại Thuốc Aspirin Mới Có Thể Ngăn Chận Được Heart Attack
http://i12.photobucket.com/albums/a209/anhtrandq/Sao%20Mai/bayer2.jpg
Hãng dược phẩm BAYER đã chế tạo được loại ASPIRIN tinh chất tan ngay trong miệng. Loại thuốc mới nầy có kết quả nhanh hơn các viên aspin thông thường. Theo các công trình nghiên cứiu về y học thì nếu uống mỗi ngày một viên Aspirin có thể giảm cơ nguy của chứng bịnh Heart Attack cho những người bị cao áp huyết (high blood pressure) hay cao cholesterol. (Ghi chú: Nếu bạn muốn uống mỗi ngày 1 viên để phòng ngừa heart attack thì nên hỏi ý kiến của Doctor trước. Trường hợp dùng thường xuyên sẽ có loại low-dose aspirin therapy - loại hàm lượng thấp.)
http://i12.photobucket.com/albums/a209/anhtrandq/Sao%20Mai/aspirin_therapy.jpg
Mới đây qua một công trình nghiên cứu ngưòi ta cũng biết được Aspirin không những chỉ giúp ngăn ngừa bịnh Heart Attack mà còn có thể giúp chận đứng tạm thời cơn đau tim bất ngờ. Bác Sĩ đề nghị là chúng ta luôn luôn có thuốc Aspirin trong nhà nhất là những người tuổi tác cao.
Nói về cơn sốc tim, có rất nhiều nhiều triệu chứng khác nhau, tuy nhiên sau đây là những triệu chứng thông thường:
Đau đớn hay tê ở cánh tay trái
Cảm giác đau ở cằm (hàm), và còn là nôn mữa và xuất nhiều mồ hôi.
Cảm thấy đau ở ngực và nhức đầu
Phần đông (khoảng 60%) cơn sốc tim xảy ra lúc người ta đang ngủ và không thức dậy nữa. Tuy thế, trong lúc ngủ say người ta sẽ thức giấc nếu cơn đau ở ngực xảy ra. Nếu điều trên đây xảy ra, Bác sĩ khuyên là phải lập tức nhai nát hai viên ASPIRIN và uống theo một ngụm nước. Ngay sau đó:
- Gọi điện thoại cho HÀNG XÓM hay cho NGƯỜI THÂN GẦN NHỨT của mình báo cho họ biết là bạn đang bị SỐC TIM hay NHỒI MÁU TIM (Heart Attack).
- Ngồi xuống cái ghế bất cứ cái ghế nào hay sofa gần bên cạnh cửa trước để chờ người ta tới cứu mình, nhớ là ĐỪNG CÓ NẰM XUỐNG!!!
Bác sĩ về tim mạch cho biết, nếu mỗi người khi nhận được e-mail nầy cũng gởi cho ít nhứt 10 người thì có thể sẽ có một nhân mạng được cứu sống về "heart attack".
TTTL Sưu tầm
Trần Đức Quang
24-11-2013, 08:19 PM
Đậu nành trong lĩnh vực y khoa
Hiện nay, trước tình trạng bệnh nan y đang lan tràn trên thế giới, các khoa học gia đã nghiên cứu đủ mọi phương pháp để phòng chống kể cả áp dụng phương pháp dưỡng sinh, y thuật Đông Phương và dược thảo. Trong quá trình nghiên cứu, các khoa học gia đã để ý tới hai nước Trung Hoa và Nhật Bản.
Phần đông dân chúng trong hai quốc gia này có thói quen tiêu thụ đậu nành và những sản phẩm của đậu nành trong các bữa ăn thường nhật. Nên tỷ số những người mắc bệnh nan y rất thấp so với các nước Tây Phương và Hoa Kỳ.
Vì thế, họ đổ xô nhau đi nghiên cứu về đặc tính của đậu nành để xem có thể ứng dụng vào y dược để điều trị một số bệnh tật hay không.Tháng 9 năm 1996, hội nghị quốc tế lần thứ hai nhằm tổng kết các thành quả nghiên cứu của khoa học gia về công dụng của đậu nành trong lãnh vực y học đã được diễn ra trong 5 ngày liền tại Brussels . Hơn 80 khoa học gia đến từ khắp nơi trên thế giới đã lần lượt thuyết trình về những kết quả sưu tầm mới nhất mà họ đã thu đạt được trong lãnh vực y khoa trị liệu. Sau đây chúng tôi xin tóm tắt những thành quả đó và coi như là những tin vui để cống hiến quý vị độc giả.
1. Đậu Nành Có Khả Năng Chữa Được Bệnh Tim Mạch
Hiện nay, nhiều bằng chứng cụ thể cho thấy đậu nành có khả năng làm giảm lượng cholesterol của những người bị bệnh cao mỡ. Những bệnh nhân này nếu để lâu sẽ dẫn đến bệnh tim trầm trọng và có nguy cơ bị chết bất đắc kỳ tử vì mạch máu bị nghẽn hay tim bị kích ngất. Thực ra chất Protein trong đậu nành có khả năng làm hạ mức độ hai độc tố LDL Cholesterol và Triglyceride, tác nhân gây ra bệnh cao mỡ. Kết quả này rất khả quan và công hiệu hơn hẳn việc trị liệu bằng phương pháp ăn uống theo qui thức do các chuyên gia y tế ấn định, kể cả việc chữa được các chứng bệnh cao mỡ trầm trọng và bệnh cao mỡ ở trẻ con.
Thêm vào đó, đậu nành còn có khả năng làm tăng lượng HDL cholesterol, một chất hữu ích trong cơ thể có tác dụng đề kháng lại hai chất LDL Cholesterol và Triglyceride độc hại kể trên. Ngoài ra đậu nành cũng còn có công hiệu ngăn chận sự oxýt hóa của chất LDL Cholesterol, không cho chúng có cơ hội chuyển hóa thành những nguyên tố độc hại khác, và phòng ngừa được chứng nghẽn các mao huyết quản.
Isoflavones là một hợp chất thiên nhiên hàm chứa trong đậu nành có cấu trúc hóa học tương tợ như kích thích tố nữ oestrogen. Hiện thời người ta chưa chứng minh được chính protein trong đậu nành hay chỉ riêng chất Isoflavones trong protein của đậu nành là có công hiệu chữa các chứng bệnh trên. Tuynhiên các khoa học gia đều đồng quan điểm rằng đậu nành nói chung có khả năng trị được bệnh tim mạch, đặc biệt là chứng cao Cholesterol trong máu.
2. Đậu Nành Chữa Được Bệnh Của Xương
Xưa nay, các chuyên gia y tế đều công nhận calcium có khả năng phòng ngừa được bệnh xương xốp (osteoporosis), thường xảy ra trong giới phụ nữ trọng tuổi. Bệnh này cũng có xảy ra cho nam giới nhưng với một tỷ lệ thấp hơn.
Ngoài ra sự ăn uống theo quy thức cũng có khả năng làm cho xương được rắn chắc. Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy những người thường ăn đậu nành như dân chúng Nhật Bản cũng ít khi mắc phải bệnh xương xốp.
Người ta thí nghiệm trên loài chuột bằng cách cho chúng ăn toàn đậu nành không những ngăn chận được chứng thoái hóa calcium của xương mà còn làm cho xương được rắn chắc. Isoflavones trong đậu nành là một chất có tính năng động có tác dụng giống như oestrogen ngăn ngừa được chất men tyrosin kinase làm cho xương bị xốp và dễ gãy. Nó cũng còn trợ giúp cho tế bào xương hình thành vững vàng.
Một cuộc thí nghiệm khác được thực hiện bằng cách cắt bỏ noãn sào (buồng trứng) của chuột cái để cho nó không sản xuất ra kích thích tố oestrogen nữa, rồi cho chúng ăn toàn bằng đậu nành. Chất Isoflavones trong đậu nành vẫn ngăn chận được sự thoái hóa của xương và làm cho xương luôn luôn khỏe mạnh.
Những nghiên cứu gần đây cho biết những phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh, mỗi ngày dùng bột hay sữa đậu nành thường xuyên thì mật độ khoáng chất trong xương vẫn duy trì ở mức độ bình thường. Hiện nay tại Úc Châu xưởng bào chế dược phẩm đã sản xuất ra thuốc bằng đậu nành để cho người phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hằng ngày rất tiện lợi.
3. Đậu Nành Có Thể Phòng Chống Được Bệnh Ung Thư
Qua những nghiên cứu gần đây, các khoa học gia ghi nhận những người thường dùng đậu nành hoặc các sản phẩm của đậu nành trong khẩu phần ăn uống hằng ngày ít có nguy cơ bị bệnh ung thư nhũ hoa, tử cung, ruột già và nhiếp hộ tuyến. Các nghiên cứu khác được thực hiện trên cơ thể súc vật bằng cách gây cho chúng bị nhiễm bệnh ung thư rồi dùng chất genistein hàm chứa trong đậu nành để chữa trị thì thấy nó ngăn chận được sự phát triển của bịnh ung thư ruột già, gan và vú.
Người ta còn nghiên cứu bằng cách giả tạo một sự sống như thể trạng thật của một con người đang bị nhiễm bệnh ung thư và đặt trong ống nghiệm. Sau đó họ trích các hợp chất từ đậu nành để chữa trị và đạt được kết quả hữu hiệu. Những hợp chất này còn có khả năng ngăn chận sự cung cấp máu để nuôidưỡng một loại tế bào đặc biệt có khuynh hướng hình thành các bướu ung thư.
Hiện nay các thí nghiệm được thực hiện trên cơ thể của loài thú về khả năng chống bệnh ung thư của đậu nành đã thành công một cách tốt đẹp.. Tuy nhiên đối với con người cần phải thực hiện thêm nhiều cuộc thí nghiệm khác nữa để xác dịnh mức độ hữu hiệu và an toàn rồi mới công bố để sử dụng.
Gần đây khoa học gia Yehudith Birk của trường Đại học Hebrew ở Jerusalem đã thực hiện được một vài phương pháp đáng khích lệ, có thể chữa được bệnh ung thư ở nhiều cấp độ trầm trọng và trong nhiều bộ phận cơ thể khác nhau mà không cần biết bệnh đã phát sinh vì nguyên do gì. Hiện nay Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ đang cho phép áp dụng phương pháp này để điều trị một số bệnh nhân tình nguyện trong bệnh viện để thí nghiệm và kiểm chứng. Saponin và những hợp chất khác của đậu nành cũng đang được nghiên cứu và áp dụng.
Mong rằng cuộc thí nghiệm này được sớm thành công và sẽ mang lại một tin vui cho nhân loại trên toàn thế giới.
4. Đậu Nành Và Bệnh Thận
Trong lãnh vực này, người ta nghiên cứu một cách lẻ tẻ và hiện chưa có một kết quả thỏa đáng nào. Song vài thí nghiệm cho thấy đậu nành cũng có ích lợi trong việc chữa trị bệnh thận. Các khoa học gia của Ấn Độ đã chứng minh quy thức ăn uống bằng cách tiêu thụ rất ít chất béo và chất protein rồiphối hợp thêm đậu nành trong khẩu phần hằng ngày có công hiệu giảm được chất cholesterol trong máu.
Các cuộc thí nghiệm khác trên loài chuột chứng minh được chất Genistein trong đậu nành có thể làm cho mạch máu được thư dãn và giảm chế được tốc độ lọc máu của thận, nên tránh được bệnh tiểu đường. Người ta đã trích hợp chất trong đậu nành để tiêm cho những con bò đã bị gây bệnh tiểu đường thì thấy tốc độ lọc máu của chúng trở lại mức độ bình thường.
5. Đậu Nành Và ảnh Hưởng Sinh Lý Của Phụ Nữ
Aedin Cassidy và các khoa học gia của Anh Quốc đã ngiên cứu biết được đậu nành điều hòa chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và kềm chế được sự phát triển quá mức kích thích tố oestrogen của phụ nữ trẻ tuổi. Vì khi kích thích tố này phát triển quá nhiều, người phụ nữ sẽ có sát suất dễ bị bệnh ung thư nhũ hoa hơn.
Đối với những phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh, dùng đến 40% đậu nành trong khẩu phần ăn uống hàng ngày sẽ không cần phải uống thuốc hồi phục kích thích tố mà vẫn có thể phòng ngừa được bệnh xương xốp. Nếu cảm thấy ăn uống bất tiện thì có thể dùng oestrogen thiên nhiên được bào chế thành thuốc viên từ đậu nành hiện có bày bán hợp pháp tại các tiệm dược phẩm.
6. Đậu Nành Và Sức Khỏe Của Trẻ Con
Tại New Zealand , người ta thí nghiệm bằng cách nuôi những con vẹt bằng bột đậu nành theo công thức sữa nuôi trẻ con và báo cáo rằng không có ảnh hưởng gì xấu đối với sự sinh sản và cơ quan sinh thực của chúng. Tuy nhiên thí nghiệm ở loài vật có kết quả chưa hẳn sẽ trùng hợp với thí nghiệm ở loài người.Trong thập niên qua, ông Kenneth Setchel, chuyên gia nghiên cứu về đậu nành đã báo cáo rằng trẻ con được nuôi dưỡng với sữa đậu nành có công thức Isoflavones cao vẫn được an toàn. Trong nhiều năm nuôi dưỡng như vậy cũng không có ảnh hưởng gì xấu cho đứa bé cả.
Khoa học gia Alercreutz bảo rằng người Á Châu thường ăn uống nhiều đậu nành hơn không có ảnh gì bất lợi cho việc sinh sản của họ cả. Chất Isoflavones tập trung trong thủy dịch bao bọc chung quanh bào thai tương đồng với mức độ Isoflavones trong máu của một người mẹ bình thường.
Ở Nhật Bản, trẻ con khoảng 4 tháng tuổi là đã cho dứt sữa mẹ và được thay thế bằng sữa đậu nành, được bảo đảm rằng nó sẽ có đầy đủ sức khỏe trong tương lai vào thời kỳ khôn lớn. Lamartinière đã thí nghiệm bằng cách cho chuột ăn chất Genistein của đậu nành sẽ tránh được bệnh ung thư vú về sau.
Hiện thời người ta vẫn còn nghiên cứu để xác định rõ ràng vai trò của đậu nành trong việc nuôi dưỡng trẻ con quan trọng như thế nào.
Tóm lại, qua sự trình bày trên đây, chúng ta thấy quả thật đậu nành đã có công hiệu đối với việc phòng ngừa và chữa trị một số bệnh tật. Tuy nhiên vì bản thân nó xuất xứ từ một loại thảo mộc tầm thường nên trong dân gian ít ai để ý tới. Tại Hoa Kỳ, người ta đang nghiên cứu dể nắm vững các chứng minh cụ thể về công dụng của đậu nành rồi mới chính thức đưa vào y khoa trị liệu. Tại Úc Châu tầm mức của đậu nành có khả năng y dược chưa được đặt thành đề tài nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây người ta đã bắt đầu sử dụng đậu nành để sản xuất chất oestrogen nhân tạo và được bày bán trong các nhà thuốc tây một cách hợp pháp để cho các phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hàng ngày rất tiện lợi.
Mong rằng trong tương lai, những công dụng khác của đậu nành trong lãnh vực y dược sẽ còn được quảng bá rộng rãi hơn nữa và sẽ mang lại nhiều hữu ích thiết thực trong việc bảo vệ sức khỏe của con người.
Người Á Châu mình đã biết dùng đậu nành để chế biến nhiều loại thức ăn. Tuy không nghiên cứu rõ ràng, nhưng may mắn ngẫu nhiên trùng hợp về giá trị dinh dưỡng đặc biệt của nó.
TRẦN ANH KIỆT
PvP sưu tầm
Thầy Lang Ta
thylan
03-12-2013, 10:46 AM
“MƯỜI ĐIỀU THƯỜNG TRỰC DƯỠNG SINH ĐẾN GIÀ”
Phần đông các ông vua trong lịch sử đều rượu chè, trụy lạc nên tuổi thọ rất ngắn. Duy chỉ có vua Càn Long đời nhà Thanh thọ tới 89 tuổi. Bí quyết của ông là suốt đời kiên trì nghiêm ngặt thuật dưỡng sinh “mười điều thường trực” đến già không bỏ. Mười điều dưỡng sinh ấy có thể diễn đạt vắn tắt là:
1/ Răng thường đánh: Hai hàm răng đánh vào nhau thành tiếng. Đó là cách luyện cơ chân răng cho chắc, khỏe, giúp răng bền chắc, tránh các bệnh về răng, răng khó rụng, lại giúp cả cơ mặt hoạt động, góp phần làm tăng lưu thông máu lên não...
2/ Bọt thường nuốt: Vì nước bọt giúp điều hòa dịch vị, tăng khả năng hấp thụ thức ăn, tránh được bệnh viêm loét dạ dày cũng như nhiều bệnh đường tiêu hóa...
3/ Tai thường rung: Hai bàn tay áp vào hai tai, vỗ nhẹ liên hồi; Hoặc hai ngón tay nút vào hai lỗ tai rồi rút mạnh ra, cứ thế liên tiếp nhiều lần. Như thế màng nhĩ thường được rung, tránh được trạng thái chùng màng nhĩ khi có tuổi, khiến cho tai thính cả lúc tuổi già.
4/ Mũi thường vuốt: Hai bàn tay xát nóng, vuốt hai bên mũi nhiều lần, có thể phòng cảm mạo, viêm mũi.
5/ Mắt thường đảo: Ngưng mắt nhìn xa, đảo nhãn cầu nhiều lần, tiếp đến lại ngưng mắt chăm chú, rồi lại đảo nhãn cầu. Luyện tập như thế giúp tăng thị lực, phòng được các chứng hoa mắt, suy giảm thị lực...
6/ Mặt thường xát: Hai bàn tay xoa vào nhau cho nóng lên rồi xoa mặt nhiều lần. Xoa mặt làm tăng lưu thông huyết dịch ở mặt, tránh hoặc giảm được nếp nhăn, lại có thể phòng các bệnh về da mặt.
7/ Chân thường vuốt: Thường xoa vuốt chân từ bàn chân tới đùi, có thể làm giảm tình trạng đọng máu, phòng được nhiễm lạnh cơ thể từ chân, nên phòng được các bệnh ở chân cũng như chứng mất ngủ...
8/ Bụng thường xoa: Dùng bàn tay xoa trên vùng bụng, giúp dạ dày, ruột được vận động nhẹ, tăng khả năng tiêu hóa, ăn ngon miệng, phòng được các chứng chướng bụng, bí trung tiện...
9/ Chi thường duỗi: Tứ chi thường co vào duỗi ra nhiều lần, có thể giúp khí huyết toàn thân lưu thông, phòng được các chứng thiểu năng tuần hoàn não cũng như các chứng về mạch...
10/ Hậu môn thường động: Mỗi ngày dành vài lần tập trung tinh thần làm co duỗi hậu môn, có thể phòng được viêm tuyến tiền liệt cũng như các bệnh đi lỏng mãn tính...
Thy Lan ST
Powered by vBulletin™ Version 4.0.7 Copyright © 2026 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.