PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Theo Dòng SỬ VIỆT



Trang : 1 [2]

Hansy
09-08-2014, 08:33 PM
58- TRIỀU MẠC
DỜI LÊN CAO BẰNG

GvAOR48ngv8

Hansy
10-08-2014, 01:40 PM
Đạo Công Giáo
vào Việt Nam (1533-1659)
thế nào ?

Năm 111 trước tây lịch, vua Vũ Đế nhà Hán bên Tầu chiếm lấy nước Nam Việt và cải tên là Giao Chỉ Bộ. Nước ta bị nước Tầu đô hộ bắc thuộc lần thứ nhất, kéo dài 151 năm, bởi nhà Tây Hán. Năm 40 sau tây lịch, hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi binh, thắng Tô Định, xưng làm vua được ba năm.

Từ năm 43 Mã Viện thắng Trưng Vương, nước ta bị bắc thuộc lần thứ hai, kéo dài trên 500 năm, bởi nhà Đông Hán, qua các đời Tam Quốc, nhà Tấn, Nam Bắc Triều. Năm 544, Lý Bôn nổi lên, đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu, rồi xưng đế, gọi là Lý Nam Đế, lập nên nhà Tiền Lý (544- 602).

Năm nhâm tuất (602), vua Văn Đế nhà Tùy bên Tầu sai tướng Lưu Phương đem 27 doanh quân sang đánh Nam Việt. Hậu Lý Nam Đế là Lý Phật Tử sợ thế không địch nổi, bèn xin về hàng. Nước ta bị bắc thuộc lần thứ ba, kéo dài 336 năm, bởi nhà Tùy, qua nhà Đường và đời Ngũ Quí.

Năm kỷ hợi, 939, sau khi đã giết Kiều Công Tiễn, rồi thắng Hoằng Tháo ở sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã chấm dứt được ách bắc thuộc, lập nên nhà Ngô, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần,.. được tự chủ.

Từ năm 111 trước tây lịch, khi vua Vũ Đế nhà Hán chiếm lấy nước Nam Việt cho đến năm 939, khi Ngô Quyền đánh đuổi người Tầu về Bắc, đếm ra vừa đúng 1050 năm. Trong 1050 năm bị bắc thuộc, người Việt Nam ta đã nhiễm cái văn minh của Tầu rất mạnh, đặc biệt là về sự học vấn và về cách cai trị. Những học phái lớn, như Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, đã từ Tầu mà ảnh hưởng vào đời sống của người Việt Nam một cách sâu rộng. Ảnh hưởng này chỉ hiện rõ nét từ thời tự chủ (939-1528), tiếp tục qua thời Nam Bắc phân tranh (từ năm 1528 đến 1802) và thời Cận kim (từ năm 1802 đến 1945). Phật học độc tôn thời Đinh, Lê, Lý Trần. Tam giáo cực thịnh từ Lý, Trần. Nho học độc tôn từ Trần, Lê, Trịnh, Nguyễn. Ngày nay, nhận, hay không nhận, không còn người Việt Nam nào kỳ thị tam giáo đến từ nước Tầu nữa, mà ngược lại, ai cũng coi tam giáo như gắn liền với người Việt Nam và văn hoá Việt Nam.

Nhưng từ thế kỷ thứ XVI, văn minh Âu châu hùng mạnh, lan tràn khắp thế giới, một tôn giáo khác, từ Âu Châu, đạo Công Giáo, đã được rao truyền khắp năm châu và đã vào Việt Nam. Người Việt Nam, công giáo hay không, đều đặt nhiều câu hỏi. Mà hai câu hỏi đầu tiên sẽ là : Đạo Công Giáo dậy gì ? Đã vào Việt Nam thế nào ?

A. Đạo Công Giáo dậy gì ?

Thiên Chúa giáo gồm có 3 đạo, là Do Thái giáo, Gia Tô giáo và Hồi giáo. Gia tô giáo gồm có đạo Công Giáo, đạo Tin Lành và đạo Chính Thống. Trong các đạo Thiên Chúa và Gia Tô, thì Công Giáo là đạo vào Việt Nam sớm hơn cả và đã góp phần nhiều hơn cả trong việc xây dựng văn hóa xã hội cho Việt Nam.

Nói về lịch sử Đạo Công Giáo trên thế giới, Trần Trọng Kim đã rất xúc tích tóm tắt rằng :Nguyên khi xưa toàn xứ Âu-la-ba không có nhất định một tông-giáo nào cả. Mỗi dân-tộc thờ một vị thần riêng của mình. Thường hay lấy cái lực hoạt động của tạo-hóa mà tưởng-tượng ra các vị thần, rồi làm đền, làm đài, để thờ cúng. Như dân tộc Hi-lạp (Grec) và dân-tộc La-mã (Romain) thờ thần Giu-bi-te (Jupiter), thần A-bô-lông (Apollon) và các vị thần khác vậy. Duy có dân-tộc Do-thái (Juifs) ở đất Tiểu Á-tế-á, nay là đất Palestine đã được độc-lập, chỉ thờ một vị thần gọi là Jéhovah sinh-hóa vạn vật và người; cho nên người chỉ phải thờ một vị thần ấy mà thôi. Đến đời dân La-mã đã kiêm-tính được cả đất Tiểu Á-tế-á, đất bắc A-phi-lị-gia và đất tây-nam Âu-la-ba, dân Do-thái cũng thuộc về La-mã, mà đạo Do-thái bấy giờ cũng đã suy lắm rồi. Lúc ấy đức Gia-tô ra đời, nhân đạo Do-thái mà lập ra đạo mới (Đạo của ông Gia Tô lập ra cho nên ta thường gọi là đạo Gia Tô, lại vì đạo ấy chỉ thờ Thiên Chúa mà thôi, cho nên lại gọi là đạo Thiên Chúa. Có phái gọi là Cơ đốc bởi chữ Christ là bậc cứu thế), dạy người lấy sự yêu-mến và tôn-kính Thiên-chúa làm gốc, lấy bụng từ-bi nhân thứ, coi người như anh em ruột thịt làm cốt. Từ đó về sau các môn đồ đem đạo ấy đi truyền-bá các nơi. Ông Saint Pierre thì sang lập giáo đường ở tại Kinh-thành La-mã, ông Saint Paul thì đi truyền đạo ở khắp trong nước.

Lúc đầu đạo Thiên-chúa bị nhiều phen vua La-mã nghiêm-cấm, dùng cực hình mà giết hại các giáo-sĩ và những người theo đạo mới, nhưng dẫu nguy-nan thế nào mặc lòng, các môn đồ cứ một niềm đi truyền đạo khắp bốn phương. Mãi đến đầu đệ-tứ thế-kỷ (313) vua La-mã là Constantin mới cho giảng đạo Thiên-chúa ở mọi nơi trong nước. Từ bấy giờ trở đi đạo Thiên-chúa một ngày một thịnh, lập Giáo-hoàng để thống-nhất việc giáo, đặt Giám-mục để coi việc giáo ở các nơi, lại sai giáo-sĩ đi truyền đạo khắp trong thiên-hạ : hễ ở đâu có người là có giáo-sĩ đến dạy đạo. Bởi vậy cho nên chẳng bao lâu mà toàn Âu đều theo đạo Thiên-chúa cả.

Bên Á đông ta thì từ đời nhà Đường (618-907) sử chép có Cảnh giáo ( Cảnh giáo là một phái đạo Gia Tô của người chủ giáo tên là Nestorius lập ra từ đệ ngũ thế kỷ ở Đông La Mã, rồi truyền sang nước Ba Tư (Perse) và nước Tàu.), tức là một phái Gia-tô-giáo đã sang Tàu, nhưng vì bấy giờ đạo Phật đang thịnh, cho nên đạo Cảnh-giáo mất dần đi. Mãi đến đời nhà Nguyên, nhà Minh mới thật có giáo-sĩ sang giảng đạo Gia-tô ở nước Tàu. [1]

Sang thế kỷ XV, với việc Christophe COLOMB (1451-1506) khám phá ra Mỹ Châu ngày 12.10.1492, việc ông cắm lá cờ của vua Tây Ban Nha và cây thập giá Đức Kitô trên thế giới mới tìm thấy này và việc ông đặt cho chúng những tên mới : Sal Vador, Santa Maria, Trinidad, (Đấng Cứu Thế, Thánh Nữ Maria, Chúa Ba Ngôi) thì đạo Công Giáo đã mở một kỷ nguyên mới : truyền giáo trên khắp thế giới, từ Phi châu, qua Á Châu, đến Mỹ Châu và Úc Châu.

Công Giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVI. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, căn cứ vào tổ chức giáo hội, chia Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam làm 3 thời kỳ : 1- Thời kỳ Bảo Trợ, gọi nôm na là Thời kỳ Công Giáo vào Việt Nam (1533-1659) ; 2- Thời kỳ Tông Tòa, gọi nôm na là Thời kỳ Công Giáo Phát Triển ở Việt Nam (1659-1960) ; Và Thời Kỳ Chính Tòa, gọi nôm na là Thời Kỳ Công Giáo Trưởng Thành ở Việt Nam (từ 1960 đến ngày nay).

B. Đạo Công Giáo vào Việt Nam (1533-1659) thế nào ?

Thời kỳ Công Giáo Vào Việt Nam kéo dài từ 1533 đến 1659. Thời kỳ này được gọi là Bảo Trợ, vì Tòa Thánh Rôma đã trao quyền Bảo trợ Truyền Giáo, do sắc lệnh Romanus Pontifex ngày 28/01/1455, cho triều đình Bồ Đào Nha. Từ đó, nước này có trách nhiệm và quyền lợi lo « Bảo Trợ » mọi việc truyền giáo và tổ chức giáo hội tại các phần đất họ khám phá ra. Từ năm 1494, Bồ Đào Nha phải phân chia quyền Bảo Trợ này với Tây Ban Nha. Các nước Nhật, Trung Hoa, Việt Nam, Xiêm,… thuộc quyền Bảo trợ Bồ Đào Nha (padroado) ; Các nước Phi Luật Tân, Mễ Tây Cơ, Mỹ châu,.. thuộc quyền Bảo Trợ Tây Ban Nha (patronato).

Ở Việt Nam, thời kỳ Bảo Trợ bắt đầu từ năm 1533, vì đó là dấu tích lịch sử đầu tiên, ghi dấu Công Giáo vào Việt Nam. Kết thúc năm 1659, vì ngày 09/09/1659, Tông Tòa Rôma thiết lập hai giáo phận đầu tiên ở Việt Nam và trao cho hai giám mục, đại diện Tông Tòa, trực tiếp điều hành giáo hội địa phương, mà không qua trung gian hai nước bảo trợ Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha nữa.

Thời Kỳ Bảo Trợ trải dài trên hai giai đoạn lịch sử việt nam : giai đoạn Nam Bắc Triều Lê Mạc (1527-1592) và một phần giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh (1570-1786). Bốn sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ về thời kỳ Bảo Trợ Truyền Giáo :

1. Thế kỷ XVI, Công giáo vào Việt Nam và thành lập bốn cộng đoàn đầu tiên. Trong thế kỷ XVI, lịch sử Việt Nam loạn lạc với những tranh chấp giữa nhà Mạc và nhà Lê (1527-1592). Bắc triều nhà Mạc, cũng như Nam triều nhà Lê đều mời đón người Âu châu vào buôn bán với mình. Làm tuyên úy cho các thương thuyền người Âu, các giáo sĩ theo thương gia người Âu bắt đầu đến và truyền giáo ở Việt Nam.

Năm 1533, Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, vào tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ I (1533), một người Âu Châu tên là Inêkhu đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay [2].

Địa điểm thứ hai đã được tiếp nhận Tin Mừng là Thanh Hóa, với việc tòng giáo của công tử Đỗ Hưng Viễn, con quan đại thần triều Lê trung hưng, vào khoảng những năm 1560-1570, dưới thời Lê Anh Tông (1556-1573), vị vua đã biên thơ xin đức cha Carneiro ở Áo Môn gởi thừa sai đến Việt Nam. Đến triều Lê Thế Tông(1573-1599), lên ngôi còn nhỏ tuổi, được chị là công chúa Chèm làm nhiếp chính. Bà đã sai sứ giả sang Áo Môn nhiều lần, xin đức cha Carneiro gửi thừa sai đến Việt Nam. Năm 1588-1589, đức cha gởi hai cha triều Alphonso de Costa và Juan Gonsalves đến Việt Nam. Năm 1590, cha Pedro Ordonez de Cevallos bị dạt bão vào Việt Nam, được đưa về kinh đô vua Lê ở An Trường (Thanh Hóa). Nhờ sụ giảng dậy của cha, bà chúa Chèm đã trở lại đạo và lãnh phép rửa tội cùng với nhiều nàng hầu và cung nữ ngày 22/05/1591. Bà lấy tên thánh là Maria, nên gọi là Mai Hoa. Bà lập một tu viện, lấy tên là dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong đó, ngày 26/06/1591, cha Ordonez đã dâng lễ và 51 nữ tu đầu tiên đã làm lễ khấn tạm. Nhiều người dân cũng đã trở lại đạo, sống thành làng Giatô, đông đến 400 nhân danh. Cuối năm 1591, Hoàng Thái Hậu, mẹ công chúa Mai Hoa, cũng đã trở lại đạo, trước khi chết.

Cũng trong thế kỷ XVI, địa điểm thứ ba đã được đón Tin Mừng là Quảng Nam - Thuận Hóa, với việc hai linh mục dòng Daminh là cha Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte đến Quảng Nam năm 1580-1586, và sau đó, việc ba nhà truyền giáo khác, dòng Đa Minh, là cha Alfonso Jímenez, cha Diego và thầy trợ sĩ Juan Bautista Deza đến Cửa Hàn vào năm 1595 và đã khuyên được 2 tù nhân bị án tử hình ở Thuận Hóa theo đạo và an táng theo lễ nghi công giáo.

Địa điểm thứ bốn được đón tin mừng là Thăng Long. Theo lời mời của Mạc Mậu Hợp, một phái đoàn các cha dòng Phanxicõ, gồm 4 linh mục là D. Operosa, B. Ruiz, P. Ortis, Fr. Montila và 4 thầy trợ sĩ cập bến An Quảng (Quảng Yên), ngày 01.05.1583. Nhưng khi vừa rời bến để lên Thăng Long, thì tầu bị bão đánh dạt sang đảo Hải Nam. Hai năm sau, cha Ruiz, đã 61 tuổi, trở lại được Thăng Long, được vua tôi Nhà Mạc đối xử tử tế và được tự do giảng đạo, nhưng không có ai theo đạo. Ngài chỉ rửa tội được cho một em bé sắp chết.

2. Thế kỷ XVII, Công giáo hội nhập vào xã hội việt nam và thành lập nhiều cộng đoàn khác. Sang thế kỷ XVII, với phân tranh Trịnh Nguyễn (1570-1786), xã hội Việt Nam vẫn còn loạn lạc với bảy trận đánh Bắc Nam : 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, và 1672. Chúa Trịnh cũng như chúa Nguyễn, ai cũng muốn tiếp xúc với người Âu Châu để võ trang cho mình.

Tiếp nối công việc truyền giáo mà các cha Đaminh và Phanxicô đã thực hiện trong thế kỷ XVI, sang thế kỷ XVII, các cha dòng Tên đã đến gieo vãi Tin Mừng rộng rãi hơn trên khắp các miền Việt Nam. Từ năm 1615 đến 1643 ở Đàng Trong và từ năm 1627 đến 1663 ở Đàng Ngoài, trên 30 thừa sai dòng Tên đã đến truyền giáo ở Việt Nam. Nhiều vị giảng đạo bằng tiếng việt. Và tầt cả đều thích ứng Tin Mừng vào phong tục việt nam. Đây là những cử chỉ hội nhập văn hoá đầu tiên. Dùng tiếng việt, để diễn đạt những khái niệm công giáo, rất mới đối với người Việt Nam. Dùng những phong tục Việt Nam, như sự hiếu thảo và nếp sống gia đình, để biểu lộ và sống đức tin công giáo, còn nhiều xa lạ với xã hội việt nam.

Nhờ vậy, hạt giống Tin Mừng đã được dễ dàng đón nhận hơn : Tháng 7 năm 1615 cha Buzomi đến giảng đạo tại Quảng Nam và gặt hái được nhiều thành công. Nguyên năm ấy cha rửa tội được 300 người. Bề trên sai thêm Cha Pina sang giúp. Năm 1621 Cha Pina mở khu vực truyền giáo mới tại Quảng Nam. Cha đã chinh phục được nhiều người thông thái trong giới quan lại và lập nhà thờ, rửa tội 50 người. Trong số những người thông thái có gia đình ông Giuse, gia đình cụ Phêrô, Manuelle, bà Minh Đức Vương Thái Phi, quan cố vấn Paolô.

Nhiều cộng đoàn mới đã được thành lập. Ở Đàng trong, cha François Buzomi và các đồng bạn đã mang Tin Mừng đến 5 cộng đoàn : Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Thuận Hóa. Ở Đàng Ngoài, cha Đắc Lộ và đồng bạn đã mang tin mừng đến 7 cộng đoàn : Thanh Hóa, Nghệ An, Thăng long, Kẻ Bắc, Kẻ Đông, Kẻ Nam, Kẻ Tây.

3. Nhưng từ sự khác biệt văn hóa, thêm vào với những đố kỵ trong cuộc sống hằng ngày, những khó khăn, cấm cản và bách hại đã dần dà hiện rõ.

Tại Đàng Trong, Tháng 12/1625, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên, nghe lời dèm pha của người Hòa Lan và lời tố cáo bỏ bê tổ tiên và các tục lệ quốc gia, ra sắc chỉ cấm người Công giáo Việt Nam không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng. đến thời Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan, (1635-1648) sắc chỉ năm 1639 trục xuất tất cả các thừa sai. Năm 1644, Nhà Chúa ra một sắc lệnh cấm đạo rất nhặt. Thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo tại Quảng Nam. Thầy là chứng nhân đầu tiên của Đàng Trong.

Tại Đàng Ngoài, Dưới thời Trịnh Tráng (1627-1658), năm sắc chỉ cấm đạo đã được ban hành vào các năm : 1629, 1632, 1635, 1638 và 1643. Sang thời Trịnh Tạc (1658-1682) ba sắc chỉ vào 3 năm : 1658, 1663, 1669. Năm 1630, một giáo hữu tên thánh là Phanxicô, phu khiêng cáng ở triều đình, bị chém đầu vì tội chôn xác người chết. Ông là chứng nhân đức tin đầu tiên của Đàng Ngoài.

4. Công giáo đã khai sinh ra chữ quốc ngữ cho văn học việt nam. Để loan báo Tin Mừng, tất cả các linh mục dòng Tên đến Việt Nam, đều đã học tiếng Việt. Nhiều vị rất thông thạo. Cha Francois de Pina là người ngoại quốc thứ nhất rất thông thạo tiếng việt, người thứ nhất giảng mà không cần thông dịch viên. Cha Gaspar d’Amaral đã sáng tác từ điển Việt Bồ và cha Antonio Barbosa đã sáng tác từ điển Bồ Việt. Cả ba đều là người Bồ. Và cha Đắc Lộ đã sáng tác và cho in, năm 1651, hai tác phẩm quốc ngữ đầu tiên : cuốn « Tự điển việt bồ latinh » và cuốn giáo lý công giáo « Phép giảng tám ngày ».

LỜI KẾT

Vào Việt Nam năm 1533, các giáo sỹ công giáo đầu tiên đã gặp nhiều khó khăn để truyền giáo cho người việt nam, vì bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Từ năm 1615, với các giáo sỹ Dòng Tên, một phương pháp truyền giáo mới, có đường hướng, dựa vào văn hóa, dùng tiếng việt để trình bày những khái niệm công giáo rất mới và dùng phong tục văn hóa việt để sống những lễ nghi công giáo rất lạ, đã thu hút được nhiều người việt nam theo đạo, khởi đầu từ thành phần xã hội cao và lan tỏa qua các thành phần xã hội bình dân.

Hai điều căn bản của giáo lý công giáo mà Trần Trọng Kim đã tóm tắt rất chính xác là :

1- Dạy người lấy sự yêu-mến và tôn-kính Thiên-chúa làm gốc
2- Lấy bụng từ-bi nhân thứ, coi người như anh em ruột thịt làm cốt.

Cả hai khái niệm trên, dẫu có khác biệt về nền tảng độc thần công giáo, nhưng không hoàn toàn xa lạ với văn hóa tam giáo ở Việt Nam, mà lại rất gần với lương tri con người về sự cần thiết của một Thiên Chủ trời đất và của một « Tứ hải giai huynh đệ ». Đó là lý do căn bản, khiến, dẫu có những ganh ghét và đố kỵ, những cấm cản và bách hại trong cuộc sống hằng ngày, vẫn có nhiều người Việt Nam muốn theo đạo.

Vào năm 1659, chưa được 50 năm truyền giáo của các cha Dòng Tên, Giáo Hội Việt Nam chưa có giáo phận biệt lập, chưa có giám mục nào, chưa có linh mục Việt Nam, nhưng có khoảng 100.000 tín hữu ; 20.000 trong Nam ; 80.000 ngoài Bắc [3] ; qui tụ chung quanh 340 nhà thờ : 75 ở Nghệ An, 183 ở Sơn Nam, 37 ở Hải Dương, 15 ở Kinh Bắc, 20 ở Thanh Hóa, và 10 ở Sơn Tây [4] . /.

Trần Văn Cảnh
-----------------------------------------------------------------------------------

Chú thích :
(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Quyển II, Sống Mới, tr. 97-98.
Mười điều răn công giáo tóm gọn trong hai chương : "Ngươi Phải Yêu Mến Đức Chúa, Thiên Chúa Của Ngươi hết Lòng, hết Linh Hồn và hết Trí Khôn Ngươi" ; "Ngươi Phải Yêu Thương người Thân Cận Như Chính Mình"
(http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/veritas/index.html)
(2). Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr.301, Viện Sử học, NXB Giáo dục 1998.
(3) Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004, tr. 189.
(4) Bentô Thiện viết trong « Lịch sử nước Anam (năm 1659) rằng : “Nghệ an Xứ những nhà thánh thờ đức Chúa trời được bẩy mươi lăm nhà thánh. Sơn nam Xứ được một trăm tám mươi ba nhà thánh. Hải dương Xứ được ba mươi bẩy nhà thánh. Kinh bắc Xứ được mười lăm nhà thánh. Thanh hoá xứ được hai mươi nhà Thánh. Sơn tây xứ được mười nhà thánh”. Trích trong Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ, Sài Gòn : Đường mới, 1972, tr. 129.

Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/

Hansy
10-08-2014, 11:02 PM
- QUẢ CAM QUÝ

c9mjmgexaMA

Hansy
11-08-2014, 02:03 PM
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a7/Vietnam1650.GIF/300px-Vietnam1650.GIF

65
LÊ CHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1643 - 1649)

Chúa Trịnh Tráng được phong Thái úy
Năm Ất Dậu kế vị ngôi cha
Trông coi mọi việc quốc gia
Cung vua phủ chúa hai nhà thông gia

Năm Đinh Hợi (1645) quân nhà Trịnh Tráng
Đem đại binh sang đánh Quảng Đông
Thu hồi đất cũ mấy vùng
Quân ta làm chủ vòng cung đất này

Hai năm sau (1647) chẳn may vua chết
Thái Thượng Hoàng lại thế ngôi xưa
Vén tay coi ngó cơ đồ
Thái bình thịnh trị được mùa nhiều năm


LÊ THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1649 - 1662)

Ỏ đàng trong, khai lâm lấp biễn
Dạy cho dân phát triễn ruộng hoang
Truyền ngôi chúa Nguyễn Phúc Lan
Giao cho thế tử Phúc Tần lên ngai


https://c2.staticflickr.com/8/7405/13137453735_168c2344ed_z.jpg
Antique map of Indochina - VN thời Trịnh Nguyễn phân tranh

Hansy
11-08-2014, 10:09 PM
- CÁI RÌU VÀNG

b87huuDvmf8

Hansy
12-08-2014, 02:44 AM
http://2.bp.blogspot.com/-I8wQ01S139U/UFbk1pVNPNI/AAAAAAAAFXM/ssQ5d40tkQw/s640/chu+quoc+ngu+1a.jpg

Năm 1651 cho xuất bản hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên : cuốn « Tự điển việt bồ latinh » và cuốn « Phép giảng tám ngày », giáo lý công giáo, cha Đắc Lộ, dòng Tên, đã khai sinh ra chữ quốc ngữ.

1. Cuốn « Tự điển việt bồ latinh »,
có tên bằng tiếng latinh là « Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°,

Cha Đắc Lộ cho biết sở dĩ ngài soạn được cuốn từ điển này là vì thứ nhất ngài đã lưu trú 12 năm cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Thứ hai ngài đã học tiếng Việt, nhất là về thanh và âm, với một cậu bé việt nam 13 tuổi. Thứ ba ngài cũng đã học tiếng việt với cha Francois de Pina người Bồ, là người ngoại quốc thứ nhất rất thông thạo tiếng Đàng Trong, người thứ nhất giảng mà không cần thông dịch viên. Thứ bốn ngài đã xử dụng từ điển Việt Bồ của cha Gaspar d’Amaral và từ điển Bồ Việt của cha Antonio Barbosa, cả hai đều là người Bồ.

Đỗ Quang Chính đã mô tả như sau « Cuốn tự điển được soạn bằng ba thứ chữ Việt-Bồ-La (mà tên sách chỉ đề bằng chữ Latinh, rõ rệt hướng tới độc giả giáo sỹ truyền giáo âu châu), với hai mục đích đã được tác giả ghi rõ : thứ nhất, giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt, để có thể truyền giáo ; thứ hai, chiều theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã, thêm chữ La tinh vào, để người Việt Nam có thể học thêm La ngữ.
Cuốn tự điển gồm ba phần chính :

- Lingvae Anmiticae seu Tvnchinensis brevis declaratio, 31 trang, từ trang 1 đến 31, được sắp lên đầu cuốn tự điển và được đánh số tách biệt với cuốn tự điển. Đây là cuốn ngữ pháp Việt Nam, nhưng soạn thảo bằng La ngữ, với mục đích cho người Tây phương học. Tuy sách vắn, nhưng tác giả cũng chia ra 8 chương rõ rệt, không kể Lời Nói Đầu :

Chương I: Chữ và vần trong tiếng Việt (De literis et syllabis quibus haec lingua constat). Chương II: Dấu nhấn và các dấu (De Accentibus et aliis signis in vocalibus). Chương III: Danh Từ (De Pronominibus). Chương IV: Đại danh từ (De Pronominibus). Chương V: Các đại danh từ khác (De aliis Pronominibus). Chương VI: Động từ (De Verbis). Chương VII: Những phần bất biến (De reliquis orationis partibus indecli nabilibus). Chương chót: Cú pháp (Praecepta quaedam ad syntaxim pertinentia).

- Dictionarivm Ananmiticvm seu Tunchinense cum Lusitana, et Latina declaratione. Phần này không đánh số trang nhưng ghi theo cột chữ (mỗi trang có hai cột chữ). Từ đầu đến cuối là 900 cột, từ mẫu tự nọ sang mẫu tự kia thường để cách một trang trắng, có khi hai trang trắng. Một điều khác đặc biệt với tự điển Việt Nam ngày này, Đắc Lộ thêm mẫu tự /b sau mẫu tự b. Thực ra đó là một số chữ thuộc mẫu v bây giờ. Ví dụ /bá (vá: vá áo), /bã (vã: vã nhau, tát nhau), /bạch (vạch: vạch tai ra mà nghe), /bậy (vậy: ấy vậy), /bán (ván: đỗ, đậu ván), /bỗ (vỗ: vỗ tay), /bỏ (vỏ: vỏ gươm), /bua (vua: vua chúa), /bú (vú) . Mẫu tự /b này chiếm 10 cột, tức 5 trang giấy.

- Index Latini sermonis là phần thứ ba cuốn tự điển. Trong phần này, tác giả liệt kê chữ La tinh có ghi trong phần hai và bên cạnh mỗi chữ có đề số cột, với mục đích để người học tiếng Việt, nếu đã biết La tinh, thì dò theo phần này để tìm chữ Việt ở phần kia. Trong phần này không đánh số trang, cũng không ghi số cột (mỗi trang có hai cột chữ). Chúng tôi đếm được 350 cột tức 175 trang.
(Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Ra khơi : Sài gòn 1972, tr. 84-86)

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/58/Derhodes.jpg
Linh Mục Alexandre de Rhodes

2. Cuốn « Phép giảng tám ngày »
có tên bằng tiếng latinh và tiếng việt như sau : « Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°. (Hình chụp sách chính bản, lưu trữ tại Thư Viện Á châu, Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris)

« Đây là một cuốn giáo lý mà tác giả muốn viết cho những người dậy giáo lý dùng. Cuốn sách được viết bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh (chữ xiên), bên tay phải là chữ Việt (chữ đứng). Để độc giả dễ dàng đối chiếu hai thứ chữ, Đắc Lộ đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách có 319 trang, không đề Lời tựa. Sau trang bìa và trang ghi ngày được phép in sách, là đến phần chính ngay.


Viết sách này, tác giả không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học, có tính cách sư phạm, và như chúng ta đã biết là sách được chia ra Tám ngày. (Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 86)

3. Cha Đắc Lộ đã học tiếng việt và cho in hai sách trên thế nào ?.
Ở một chỗ khác, trong một bài tường thuật ngắn, cha Đắc Lộ đã vắn tắt mô tả những bước đầu truyền giáo của ngài từ năm 1624 tại Việt Nam, việc học tiếng việt và việc xuất bản hai tập sách trên. Ngài nhắc lại việc cần thiết phải chuyên cần học tập tiếng việt nếu muốn truyền giáo hiệu quả, ngài cũng nhắc đến việc ngài học tiếng việt với một cậu bé việt nam và việc in sách tự điển, ngữ pháp và giáo lý. Ngài viết : Vì Nhật Bản vẫn thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, nên bề trên tin rằng Chúa cho phép sự ác đó để mở cửa cho Đàng Trong nhận Phúc âm.

Thế là năm 1624, bề trên phái cha Mathêu Mattos, trước kia ở Rôma làm quản thủ các tỉnh dòng, đến thăm việc truyền giáo ở Đàng Trong, cùng với năm bạn đồng sự người Âu, trong số đó tôi hân hạnh là người thứ năm và một người Nhật thông thạo chữ Hán.

Chúng tôi khởi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và sau mười chín ngày thì tới Đàng Trong, tất cả đều hồ hởi bởi hoạt động tốt. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông tạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu. Tiếng mới này còn thông dụng ở Đàng Ngoài, ở Cao Bằng, ở Đàng Trong và người ta còn nghe và hiểu ở ba xứ lân bang khác. Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được.

Hết các tiếng đều độc vận và chỉ phân biệt ý do nhiều giọng nói khác nhau. Một chữ như “đại” chẳng hạn, có tới hai mươi ba nghĩa hoàn toàn khác nhau, do cách đọc khác nhau, vì thế khi nói thì như ca như hát. Tôi đã đề cập tới nhiều hơn trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Căn cứ vào đó thì thấy học thứ ngôn ngữ này không phải là dễ.

Vì thế mà tôi thấy cha Fernandez và cha Buzomi phải dùng thông ngôn để giảng, chỉ có cha Francois de Pina không cần thông ngôn vì nói rất thạo. Tôi nhận thấy bài ngài giảng có ích nhiều hơn bài các vị khác. Điều này khiến tôi tận tuỵ học hỏi, tuy vất vả, thế nhưng khó ít mà lợi nhiều. Tôi liền chuyên chú vào việc. Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng như khi xưa vùi đầu vào khoa thần học ở Rôma. Chúa đã cho tôi trong bốn tháng tôi đủ khả năng để ngồi tòa giải tội và trong sáu tháng tôi đã giảng được bằng ngôn ngữ Đàng Trong và cứ thế tôi tiếp tục trong nhiều năm. Tôi khuyên tất cả các vị nhiệt tâm muốn tới những tỉnh dòng chúng tôi để chinh phục các linh hồn, thì nên chuyên cần ngay từ buổi đầu. Tôi cả quyết rằng hiệu quả của việc trình bày các mầu nhiệm trong ngôn ngữ của họ thì vô cùng lớn lao hơn khi giảng bằng thông ngôn: thông ngôn chỉ nói điều mình dịch chứ không sao nói với hiệu lực của lời từ miệng nhà truyền đạo có Thánh Thần ban sinh khí.

Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng, cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Chúa trong giáo đoàn và cả ở nước Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến thương tôi nên đã muốn lấy tên tôi.

Từ ngày tôi trở về Âu Châu, tôi đã cho in ở Rôma, nhờ các vị ở bộ Truyền giáo, một tự vị tiếng Đàng Trong, Latinh và tiếng Bồ, một cuốn ngữ pháp và một cuốn giáo lý, trong đó tôi bàn giải về phương pháp chúng tôi dùng để trình bày mầu nhiệm đạo thánh cho lương dân. Việc này sẽ có ích cho những người ao ước tới giúp việc giảng Chúa Kitô bằng ngôn ngữ tới nay chỉ dùng để sùng bái quỷ ma. (ALEXANDRE DE RHODES, HÀNH TRÌNH VÀ TRUYỀN GIÁO, do Nguyễn Khắc Xuyên dịch.
(http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=136&ict=319)


http://loanbaotinmung.net/wp-content/uploads/2013/12/giao-si-dac-lo.jpg
Cuốn sách in đầu tiên bằng chữ quốc ngữ và linh mục Alexandre de Rhodes

Trần Văn Cảnh
(Còn nữa)

Hansy
12-08-2014, 11:59 AM
(Tiếp theo)

4. Ai là tác giả của hai tác phẩm này ?
Vì tên tác giả đề ngoài sách chỉ có tên cha Đắc Lộ, thông thường chúng ta vẫn hiểu rằng đó là tác phẩm của riêng cha Đắc Lộ. Cách hiểu này không đúng với sự thực. Về cuốn từ điển, thì chính cha Đắc Lộ đã nói rõ trong lời tựa nói với độc giả rằng ngài đã thực hiện dựa trên căn bản của cuốn từ điển Việt - Bồ do linh mục Gaspar do Amaral soạn và từ điển Bồ Việt của Antonio Barbosa, cả hai đều là người Bồ..

Và một cách tổng quát, trong một nghiên cứu mới đây, cha Jacques ROLAND đã đưa ra một trả lời thực tế như sau : « Về hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt Nam do Bộ Truyền Bá Đức Tin xuất bản, hẳn không có vấn đề bán ra cho dân chúng; mục đích duy nhất là phục vụ công cuộc truyền giáo. Do sự kiện Rhodes là người duy nhất ở Roma biết đến ngôn ngữ ấy, thì ông cần đích thân bảo chứng cho các tác phẩm liên hệ, mang lấy trách nhiệm tối hậu trước các vị bề trên của mình và trước Toà Thánh. Sự kiện tên ông xuất hiện trên bìa sách không nhất thiết minh chứng rằng ông là "tác gia" duy nhất của nó và ngay cả là người biên tập chính. Chúng tôi nghĩ rằng đây là lối mang trách nhiệm mà linh mục Rhodes đã thực hiện, chứ không phải là nêu lên tư cách tác giả văn chương theo nghĩa chính xác như chúng ta hiểu; những vị có thể làm điêu này y như cương vị của ông, hoặc có thể cùng làm việc này với ông, thì lại ở xa mút tại một nơi khác.

Còn cuốn giáo lý, có lẽ phải dành tư thế tác giả cho ông trong việc biên tập dứt điểm bản văn được in ra, và chắc chắn hơn nữa là bản văn la tinh được ông minh nhiên nói đến. Nhưng cũng chính Rhodes đã ghi rằng, trong trường hợp này đây là "phương pháp mà chúng tôi đã dùng để trình bày các màu nhiệm của chúng ta cho người ngoại quốc". Như thế rõ rệt nó được định vị trong một công trình tập thể ».
(http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/1232_jacques_roland/page7.shtml)

5. Các giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ trước khi hai sách trên được xuất bản.
Trong tác phẩm nghiên cứu rất nghiêm chỉnh về « Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 », Linh mục Đỗ Quang Chính, dòng Tên, đã mở đầu chương 2, bàn về « Sơ lược giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ (1620-1648) đã xác định một cách tổng quát rằng : « Chữ Việt ngày nay là một thứ chữ đã được nhiều linh mục Dòng Tên ở Việt Nam (với sự cộng tác âm thầm của một số Thầy giảng Việt Nam) vào thế kỷ 17 sáng tạo ra. Nói một cách tổng quát thì họ đã dùng mẫu tự La tinh, rồi dựa vào phần nào của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy Lạp, để làm thành chữ mà chúng ta đang dùng ». (Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 19-76)

Dựa vào những tài liệu gốc, viết tay, tìm được trong các văn khố, cha Chính đã phát hiện ra hai yếu tố căn bản phân chia sự tiến triển trong tiến trình thành hinh của chữ quốc ngữ 1620-1648. Rồi tựa vào đó, cha đã nêu ra hai giai đoạn thành hình của chữ quốc ngữ trước ngày sinh nhật của nó vào năm 1651, ngày mà hai cuốn sách của cha Đắc Lộ được phổ biến. Hai giai đoạn đó là : Giai đoạn sơ khởi chữ quốc ngữ 1621-1626 với các đặc tính chung là « hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó », và giai đoạn hai 1631-1648 mà hai đặc tính chung là « Chữ quốc ngữ đã được viết khá đúng về hai phương diện : cách ngữ và dấu ».

http://paristimes.net/fr_culture/vietnam_colonie.gif

Giai Đoạn Sơ Khởi
(1620-1626)

Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. « Sang đến đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo dòng Tên gồm người Âu châu và một số ít người Trung hoa, Nhật bản, mới chính thức đến truyền bá Phúc âm ở Việt Nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy đủ.

Ngày 06.01.1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai lm Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha), đáp tầu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong, và tới Cửa Hàn ngày 18.01.1615. Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An…

Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích đầu tiên là giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha.

Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấyđều phải học tiếng Việt mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì Lm Francisco de Pina là người Âu châu đầu tiên nói thâo tiếng Việt. Pina sinh năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri. Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày 15.12.1625….

Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620, các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng « chữ Đàng Trong », tức là chữ Nôm. Cuốn sách này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc chắn phải có sự công tác của người Việt.

Nhưng chúng tôi tưởng cuốn sách này cũng được viết bằng chữ Việt mới nửa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là Lm Francisco de Pina, ví lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất….

Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù Lm Pina đã nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như chúng ta đang dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626, chúng tôi tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là giai đoạn sơ khởi chữ quốc ngữ.(Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 20-24)

Bảy tài liệu viết tay đả được trình bày. Đó là những tài liệu của : Joao Roiz năm 1621, Gaspar Luis năm 1521, Cristoforo Borri năm 1621, Đắc Lộ năm 1625, Gaspar Luis năm 1626, Antonio de Fontes năm 1626 và Francesco Buzomi năm 1626. Trong những tài liệu này, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ:

- Annam = An Nam
- Unsai = Ông Sãi
- Ungue = Ông Nghè
- Bafu = Bà Phủ
- doij = đói
- scin mocaij = xin một cái
- Sayc Chiu = Sách chữ
- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết

Giai Đoạn Hai
(1631-1648)

Sang giai đoạn hai 1631-1648, 11 tài-liệu viết tay đã được nhắc đến.
• Hai tài liệu được nhắc đến, nhưng không tìm được tài liệu lưu trữ. Đó là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim) và cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa.
• Năm tài liệu của cha Đắc Lộ, viết vào tháng 1.1631, tháng 5.1631, năm 1636, năm 1644 và năm 1647
• Hai tài liệu của Gaspar d’Amaral năm 1632 và năm 1637
• Hai tài liệu về biên-bản hội-nghị viết tay năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam : năm 1645 và 1648.

Mưới một tài liệu này cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu.
Nhiều chữ nhìn tương tự như chữ quốc ngữ ngày nay, nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác

• Thính hoa: Thanh Hóa
• oũ bà phủ: Ông bà Phủ
• hụyen: huyện
• sãy: sãi
- Chuá thanh đô (Chúa Thanh đô, Thanh đô vương Trịnh Tráng)
- Chuá cả (Chúa Cả, tước hiệu dành cho Trịnh Tạc)
- Đức Chuá Blờy sinh ra chín đớng thiên thần la cuôn cuốc Đức Chuá Blờy (Đức Chúa Trời sinh ra chín đấng thiên thần là quân quốc Đức Chúa Trời)

Nhiều chữ được viết như chữ quốc ngữ ngày nay. Thí dụ như:
• Nghệ An
• Bố Chính
- Kẻ chợ
- đàng ngoài
- một nam, một nữ
(Đỗ Quang Chính, Ibid. tr. 20-76)


http://1.bp.blogspot.com/-l9utHHVCCzk/UFbJo3v6_pI/AAAAAAAAFT0/3QRZ7AEJIG8/s1600/lsqn@.jpg

Trần Cảnh
(Còn nữa)

Hansy
12-08-2014, 06:29 PM
LỜI KẾT

Với hai cuốn sách « Tự điển Việt Bồ Latinh » và giáo lý « Phép giảng tám ngày », ấn hành năm 1651, cha Đắc Lội đã chấm dứt thời gian thai nghén và đã làm khai sinh cho chữ quốc ngữ. Dĩ nhiên cha không phải là người duy nhất mà chỉ là một trong nhiều người đã góp phần thành lập chữ quốc ngữ.

Viết « Lời giới thiệu » cho tập khảo cứu « Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 » của Đỗ Quang Chính, giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh đã nhận định một cách chính đáng rằng : « Để thực hiện công cuộc truyền đạo của họ tại Đại Việt, các giáo sĩ Dòng Tên ngay từ khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã cố gắng tạo nên một lối chữ viết căn cứ trên mẫu tự la tinh, nhờ đó có thể diễn tả ngôn ngữ Việt. Từ những sự dò dẫm phiên âm các nhân danh và địa danh lúc ban đầu, cho đến lúc Đắc Lộ cho xuất bản hai sách quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651, các cố gắng tập thể của các nhà truyền đạo Tây Phương cho phép thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay ». (Đỗ Quang Chính, sđd, Lời giới thiệu, tr. 5)

Góp phần sáng tạo chữ quốc ngữ và cho ấn hành hai tác phẩm tiếng việt đầu tiên, cha Đắc Lộ cũng như các giáo sĩ Dòng Tên chỉ nhắm có hai mục đích : thứ nhất, gíúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt, để có thể truyền giáo ; thứ hai, để giúp người Việt Nam có thể học thêm La ngữ. Trong mục tiêu thứ hai, chữ quốc ngữ đã được đưa vào chương trình đào tạo các tín hữu việt nam ưu tú, để đào tạo họ thành thầy giảng và thành linh mục (thời Thừa Sai Hải Ngoại Paris, từ 1666). Đó là lý do khiến, ngay từ buổi đầu, một số tín hữu việt nam đã thông thạo chữ quốc ngữ và đã viết được những tác phẩm giá trị, như tập « Lịch sử nước Annam » của thầy giảng Bento Thiện, viết tay năm 1659.

Sau cha Đắc Lộ, nhiều giáo sĩ Âu châu tiếp tục công việc nghiên cứu chữ quốc ngữ : Trong lãnh vực tự điển, có rất nhiều tác giả, trong đó phải kể đến Đức cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneaux, évêque d’Adran ; Vocabularium Anamitico-Latinum - Pondichéry, 1772. - [70]-729 p. ; 35 cm.) ; Đức cha Taberd Từ (Jean-Louis Taberd ; Dictionarium latino-anamiticum ;– Se-rampore : ex Typis J. C. Marshman, 1838. - LXXXVIII-708-VIII-135 p. ; 28 cm.),…

Trong lãnh vực sách quốc ngữ với những tác phẩm của cha Philipphê Bỉnh, của cố Pierre Cadro Lương, …chữ quốc ngữ đã mở đầu một nền văn học công giáo.

Chẳng bao lâu sau đó, những nhà văn quốc ngữ bậc thầy đã xuất hiện, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của. Rồi sự ra đời vào năm 1865 của tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Nam kỳ, tờ « Gia định báo » ; Từ 1905, chữ quốc ngữ lại được các nho gia cách mạng trong phong trào duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục, như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh,… cổ võ và truyền bá.

Chẳng bao lâu sau, chữ quốc ngữ đi vào học trình các trường sư phạm, đại học, thông ngôn. Năm 1907, Đông Cổ Tùng Báo ra đời với chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh. Nhiều báo khác tiếp theo, như Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Phong tạp chí với Phạm Quỳnh ?.... Các nhà in được thiết lập, hội dịch sách ra đời,…Công việc biên khảo và phê bình phát triển,…Các ký sự, tiểu thuyết mới xuất hiện,…Thơ mới ra đời, .. Tự Lực Văn Đoàn,…cả một nền văn học mới đã được chữ quốc ngữ mở ra, mang theo một nền văn hóa mới, đặt căn bản trên tự do và trách nhiệm cá nhân, hướng về tương lai, dựa vào khoa học khách quan, xây dựng quốc gia trên nền tảng công ích, lương thiện, sự thật và công bình.
(Xin xem Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử giản ước tân biên, tập 3 : Văn học hiện đại 1862-1945).

Trần Văn Cảnh
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/

http://4.bp.blogspot.com/-xyChjrwLB6g/UfNH3iWO0AI/AAAAAAAANQI/jExGEsQlJog/s1600/DSC_5925_07-26-2013.JPG

Hansy
13-08-2014, 12:07 AM
- CÁI GƯƠNG DIỆU KỲ

po5VJJPQSjU

Hansy
13-08-2014, 12:24 PM
http://enews.agu.edu.vn/uploads/imgposts/u10834_t1317811148_WkN3A.jpg
Tiến trình mở cõi của dân tộc Việt

66
NGUYỄN PHÚC TẦN
(1648 -1687)

Nguyễn Phúc Tần lên ngôi phủ Chúa
Lảnh việc quân vào tuổi ba mươi
Cầm cân nẫy mực trong tay
Chăm coi chính sự đêm ngày lo toan

Ỏ đang ngoài thuyền buôn các nước
Đưa chiếu thư xin được giao thương
Công ty Đông Ấn Hòa Lan
Mỡ ra thương điếm ở gần Hưng Yên

Người Hòa Lan mở thêm Phố Hiến
Ở Hãi Hưng làm điễm bán buôn
Thương thuyền tấp nập trên đường
Ma Cao - Ấn Độ chở hàng đem sang

Các lái buôn là người Nhật, Pháp
Bồ Đào Nha muốn cập lên bờ
Thanh Trì, Kẻ Chợ dành cho
Làm nơi thuê mướn lưu cư tạm thời (1662)

Năm Canh Dần(1650) Đàng ngoài thi Hội
Đỗ kì này chỉ có tám người
Thế Hiền tiến sĩ Giáp Khôi
Trịnh Cao,Văn Lễ sáu người xuất thân

Cuối Tân Mão (1651) Đàng trong mở cửa
Nước Hà Lan cử sứ giả sang
Vertegen xin giao thương
Phúc Tần đồng ý cho bàn hiệp thương

Một hiệp ước được vương kí kết
Với Hà Lan trong việc bang giao
Faifô thương điếm dồi dào
Lại cho miễn thuế hàng vào nước ta

Năm Ất Mùi (1655) vừa qua tháng tám
Nguyễn điều binh đi đánh Trịnh quân
Trịnh Lương túng thế lùi dần
Bắc Hà, Nghĩa Liệt dậm chân đợi ngày

Cho viện binh vua sai Trịnh Tạc
Đem đại quân cùng các thân vương
Điểm binh hạ lệnh lên đường
Phúc Tần được báo vội vàng dời binh

Quân Trịnh-Nguyễn giao tranh liên tục (1652-1662)
Cuộc chiến này tàn khốc dã man
Khi thì đột phá phương Nam
Khi thì Bắc phạt tan hoang ruộng vườn


http://chimviet.free.fr/lichsu/tranvietngac/tvns071_ChienLuyQuangBinh/12_img836A.jpg
Đồ án Lũy Thầy ở Quảng Bình

Hansy
13-08-2014, 06:41 PM
- MÓN QUÀ CỦA VỊ THẦN MUÔN THÚ

xLLSbWGO6SQ

Hansy
14-08-2014, 06:21 AM
LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES.
(ĐẮC LỘ)
(15-3-1593 – 5-11-1660)


http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/alex-1.jpeg?w=500
http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/ale-2.jpeg?w=500
CHÂN DUNG LINH MỤC ĐẮC LỘ.

Nếu ở Trung Quốc có cha Mateo Ricci, ở Ấn Độ có cha Nobili là những nhà truyền giáo lừng danh thì Cha Alexandre de Rhodes xứng đáng là vị truyền giáo tiêu biểu nhất ở Việt Nam.

A. QUÊ QUÁN. TUỔI TRẺ .

Sinh năm 1593 tại Avignon. Lãnh địa của Đức Giáo Hoàng, chính vì thế mà linh mục thường ghi ‘’ Công dân Đức Giáo Hoàng’’ ( sujet du Pape )

Gia đình gốc Tây Ban Nha đã di cư sang Avignon từ lâu. Về giả thuyết cho là có nguồn gốc Do Thái , theo Cha Michel Barnouin, tu hội Xuân Bích thì không chắc chắn. Từ dòng họ Rueda đến Rhodes ‘’ không cho thấy một dấu chỉ thực sự nào về tính chất Do Thái ( judaité) của cha Alexandre de Rhodes. (Xem MICHEL BARNOUIN : La parenté vauclusienne d’Alexandre de Rhodes, Mémoires de l’Académie de Vaucluse, tome IV, 1995 , tr.26- 29.). Gia đình khá giả như đã chứng tỏ qua các bản chúc thư, Alexandre và các anh em được thừa kế nhà cửa, tiền bạc. Sau nầy cha Alexandre đồng ý cho nhà dòng dùng tiền đó xây dựng ‘’một nhà thờ mới’’.

Sau những năm tiểu học và trung học ở quê nhà, năm 1612 , khi lên 18 hoặc 19 tuổi, ngài vào Nhà Tập Dòng Tên tại Rôma, học Toán và Thiên văn để giúp vào công việc truyền giáo. Một người bạn đồng môn Adam Schall, người Đức sau nầy rất nỗi tiếng ở Trung Quốc.

Trong một lá thư gửi cho cha Bề trên Tổng Quản Vitelleschi, ngài xin phép đi Viễn Đông truyền giáo. Cha Bề Trên đồng ý lại được Đức Thánh Cha Phaolô 5 ban phép lành. Sau đó đến Lisbaõ và ngày 4 tháng tư năm 1619 đáp chiếc tàu Santa Teresa sang Á Châu. Trong năm bạn đồng hành có cha Majorica. Vượt qua những trận bão dữ dội tàu đến Goa, Ấn Độ.Sau thời gian ở Goa và ngày 29 tháng 5 năm 1623, ngài đến Macao. Bề Trên đự định cho ngài làm việc ở Nhật Bản nhưng thời đó Nhật Bản đang bắt đạo ráo riết. Vì thế nhà dòng quyết định đưa ngài đến tăng cường cho phái đoàn truyền giáo ở Đàng Trong.


http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/alx-7.jpeg?w=500
http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/ale-3.jpeg?w=500
TEM ALEXANDRE DE RHODES.

B. LM ĐẮC LỘ TỚI ĐÀNG TRONG.

Năm 1624 cha Giám tỉnh G. Mattos đến Cửa Hàn cùng bốn linhmục: Đắc Lộ, Antonio Fontes (Bồ),Gaspar Luis (Bồ),Girolima Majorica (Ý). Bề trên cho ra Thanh Chiêm để học tiếng Việt với cha Pina có lẽ chỉ về phần văn phạm, còn thực hành chính ngài đã thuật lại là với một cậu bé địa phương .’’Một thiếu niên trong xứ , chỉ trong ba tuần lễ đã dạy tôi đủ hết các cung gịọng của tiếng Việt ‘’ Sau nầy cậu bé mang tộc của ngài là Rhodes. Rafael Rhodes vào tu hội thầy giảng. Năm 1643 đi Lào truyền giáo, không thành công nên bỏ về Kinh đô Thăng Long lấy bà goá Pia và làm thông dịch viên cho nguời Hà Lan, người Bồ và vua Lê, chúa Trịnh. Sáu tháng sau, cha Đắc Lộ cùng cha Pina lên Thuận Hoá và chứng kiến việc trở lại của bà Minh Đức Vương Thái Phi, có lẽ ở Phước Yên.

C.LM ĐẮC LỘ ĐƯỢC LỆNH RA ĐÀNG NGOÀI.

Bề Trên ở MaCau đã biết Đàng Ngoài nhưng vì chưa có người thạo tiếng địa phương nên các vị đi Đàng Trong chuẩn bị học tiếng Việt để ra Đàng Ngoài ‘’ vì hai miền xưa kia là một vương quốc’’ ( theo cha Borri). Cha Julien Baldinotti đi dò đường dưới vóc dáng một vị tuyên uý. Chúa Trịnh tiếp đãi nồng hậu. Cha Baldinotti vì không thông thạo ngôn ngữ nên không làm được gì nhiều. Thấy cha Đắc Lộ đã thông thạo tiếng Việt, Bề trên gọi về Macau để đi Đàng Ngoài. Ngài đến Đàng Ngoài ngày lễ thánh Giuse 19-3-1627 tại Cửa Bạng. Bài giảng đầu tiên ‘’ Viên ngọc quý’’ đã làm mọi người mến phục. Lúc đó Chúa Trịnh Tráng đánh trận với Chúa Nguyễn về, tuy thua trận nhưng cũng vui vẻ đón tiếp các vị. Cha Đắc Lộ dâng quà, Chúa quý mến và cho về Kẻ Chợ ( Hà Nội). Sau thời gian nồng thắm yêu vì, Chúa Trịnh không ưa nữa , lý do vì đạo cấm lấy nhiều vợ. Sau đó buộc xuôi xuống miền Bố Chính để theo thuyền người Bồ Đào Nha trở về MaCau. Ba năm trong đó phải quản chế, tù tội tám tháng nhưng cha Đắc Lộ xứng đáng là vị Tông đồ đặt nền tảng cho công cuộc rao giảng ở miền Bắc với những dấu ấn không phai mờ , đặc biệt về việc thích nghi văn hoá. Ngài là đấng sáng lập viên Hội Thầy Giảng. Ngài đáng mang danh hiệu : Tông đồ xứ Bắc như cha Buzomi : Tông đồ xứ Nam.

Trần Cành
(Còn nữa)

http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/alx-4.jpeg?w=500
BẢN ĐỒ ĐẠI VIỆT THEO ALEXANDRE DE RHODES

Hansy
14-08-2014, 11:48 AM
D. VỀ MACAU

Từ 1630 đến 1640 được Bề Trên gọi về Macau dạy học. Theo linh mục Đỗ Quang Chính vì tính tình quá sôi nổi, phương pháp táo bạo như mở tu hội cho khấn trinh khiết, xử dụng nhạc Việt vào phụng vụ.

E. TRỞ LẠI ĐÀNG TRONG.

Từ tháng 2 – 1640 lại được gửi vào Đàng Trong truyền giáo. Được sự giúp đỡ của những phụ nữ nổi tiếng như bà Minh Đức Vương Thái Phi, công chúa Ngọc Liên, cha gặt hái nhiều thành quả.

Trong thời gian năm năm, cha bị trục xuất ba lần và lần nào cũng trở lại. Lần nhất ra Thuận Hoá dâng quà cho Chúa Thượng ở Kim Long và được phép truyền đạo. Trọ tại nhà bà Minh Đức 35 ngày , rửa tội 94 người trong đó có một nhà sư và ba người họ hàng nhà chúa.

Lần hai đến , cha de Mattos lo truyền giáo Thuận Hoá,Quảng Bình. Cha Đắc Lộ lo vùng Quảng Nam, Bình Định , Phú Yên. Năm 1641 vào Phú Yên rửa tội cho 1355 người. Cùng năm 1641 lại vào Phú Yên rửa tội cho 90 người trong đó có cậu Anrê Phú Yên . Sau đó lại bị trục xuất.

Lần ba, đến Hội An 1-1642. Ra Huế dâng quà nhưng không được ở. Về lén lút ở Cửa Hàn, thăm giáo hữu và tổ chức HỘI THẦY GIẢNG như ở Đàng Ngoài . Nhận lời tuyên thệ của 10 thầy ngày 1-7-1643 . Họ khấn giữ mình độc thân, để tài sản chung và vâng lời thầy Bề Trên.

Năm 1643, Phước Vinh hết làm Tổng trấn . Vị Tổng trấn sau lùng bắt các thầy giảng. Sau hai năm lén lút, ngài theo lời khuyên trở lại Macau.

Lần bốn . Năm tháng sau, trở lại Hội an và chứng kiến cái chết anh dũng của vị tử đạo tiên khởi miền Nam : thầy Anrê Phú Yên ngày 26 tháng 7 năm 1644. Được lệnh bị trục xuất nhưng vẫn nấn ná. Ngày 26-12-1644 , ngài và thầy Inhaxiô bị bắt , bị bỏ tù ở Qui Nhơn. Được tha , ra Cửa Hàn, rồi đi Huế, Quảng Bình. Ngài và 9 người tuỳ tùng bị thuyền chúa Nguyễn bắt.

Ông Nghè Bộ đọc bản án : cấm ngặt đến Đàng Trong, bị bắt sẽ xử tử, tấu sau. Chủ tàu cũng bị xử tử và tịch thu tài sản. Ngày chia ly đau đớn , giáo dân khóc lóc thảm thiết ‘’ Tôi phải bỏ Đàng Trong trong cả thể xác nhưng tâm hồn tôi, mãi mãi ở cả hai nơi Đàng Trong và Đàng Ngoài.’’

Ngài rời Đàng Trong vĩnh viễn ngày 3- 7- 1645.


http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/alex-5.jpeg?w=500
TƯỢNG ĐÀI ALEXANDRE DE RHODES
ĐIÊU KHẮC GIA PHẠM VĂN HẠNG
NẶNG 20 TẤN.

E. HOẠT ĐỘNG Ở MACAU.

Tại Macau, nhà dòng mở Hội nghị có 31 cha tham dự để bàn về Công thức rửa tội sao cho đúng thần học. Cha Đắc Lộ và Saccano chọn ‘’ Nhân nhít danh Cha, nhít danh Con và nhít danh Suphiritô Sang Tô ‘’Hai vị trung lập. Còn 31 vị ủng hộ mô thức “Nhân danh Cha và Con và Suphiritô Sang Tô’’ Mô thức còn tồn tại đến nay , chỉ trừ thay chữ ‘’ Thánh Thần’’. Hội nghị có lẽ vào năm 1645.

F.VỀ ROMA, XUẤT BẢN SÁCH. QUA ĐỜI.


http://antontruongthang.files.wordpress.com/2012/10/alex-6.jpeg?w=500
HÌNH BÌA TỰ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA

Bề trên ra lệnh về Roma báo cáo tình hình. Ngày 20.12.1645 xuống tàu đi Rôma đem theo thủ cấp thầy Anrê. Thuyền đụng phải đá ngầm. Ngài bị người Hoà Lan bắt giam ba tháng sau đó theo tàu Anh và đường bộ qua xứ Ba Tư về Âu Châu. Lẽ ra chỉ đi mất sáu tháng thế mà phải ba năm rưỡi mới về đến Roma.

Về Roma từ 27 -6- 1649 đến 1660, ngài viết và dịch 11 cuốn sách. Ngài cũng báo cáo tình hình Đàng Trong Đàng Ngoài cho Dòng và các Hồng Y Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin. Ngài muốn Toà Thánh dứt khoát với quyền bảo trợ, ngài đề nghị phải phong chức cho người Việt vì giáo dân đã lên đến con số 300.000. Bài học cay đắng ở Nhật Bản còn đó. Các thầy giảng đã sẵn sàng. ngài khuyên gửi các Giám mục đến“ở miền đất kẻ ngoại” (in partibus infidelium) không cho người Bồ biết, để khỏi đụng chạm đến quyền lợi Hoàng gia Bồ. Đức Thánh Cha Innocent 10 ủng hộ nhưng do dự vì sợ phản ứng của người Bồ.

Ngày 11-9-1652, ngài đi Paris tìm sự ủng hộ trong các nhóm Hội Thánh Thể và nhóm Hiền Hữu ( Association des Bons Amis ). Để khỏi lôi thôi với người Bồ, Bề Trên sai người đi Ba Tư và ngài qua đời và chôn cất tại Ba Tư ngày 5-11-1660.
Trước đó ít lâu Toà Thánh đã cất nhắc hai Đức Cha Francois Pallu và Pierre Lambert de la Motte làm Đại diện Tông toà tại VN vào năm 1659 , quyết định lập hai giáo phận mới Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Trần Cành

__________________________________________________ ____________________________

Đọc thêm :

- ALEXANDRE DE RHODES : Hành trình và truyền giáo, tủ sách Đại kết, Tp HCM 1994, tr. 54 tt.
– ALEXANDRE DE RHODES : Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, tủ sách Đại kết, Tp HCM 1994, tr. 78- 121.
-HỒNG NHUỆ NGUYỄN KHẮC XUYÊN :Lịch sử địa phận Hà Nội, tư liệu, Paris 1994 , tr.8 – 23. – NGUYỄN HỒNG : sđd, tr.95-141.
– TRƯƠNG BÁ CẦN : Lịch sử phát triển công giáo ở Việt nam, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số 53, TP HCM 1999, tr.88-128.
Nguồn: http://antontruongthang.com/tim-hieu-lich-su-cong-giao-tai-viet-nam/chuong-vi-linh-muc-alexandre-de-rhodes-dac-lo-15-3-1593-5-11-1660/

Hansy
15-08-2014, 01:21 AM
- CON RÙA THẦN KỲ

e8IWmgAFOFU

Hansy
15-08-2014, 12:29 PM
http://chimviet.free.fr/lichsu/tranvietngac/tvns071_ChienLuyQuangBinh/03_img827A.jpg
Sơ đồ Chiến lũy Đàng Trong

67
TRỊNH TẠC
(1657 - 1682)

Trịnh Tráng chết, chúa nhường thừa kế
Giao con mình thay thế việc quân
Vua phong Trịnh Tạc đại thần
Nắm quyền cai trị trấn an biên thùy

Lê Thần Tông làm vì cho có
Vừa băng hà vào độ cuối thu
Đứa con Duy Vũ còn thơ
Huyền Tông là hiệu bấy giờ nhận ngôi

LÊ HUYỀN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1663 -1671)

Vua Huyền Tông lên ngôi kế vị
Lãnh sắc phong theo lễ quốc vương
Vua sai Lê Hiệu lên đường
Mang theo lễ cống đem sang Thanh triều

Trong chín năm dưới triều Duy Vũ
Có năm lần bão lốc vỡ đê (1663,1668,1670…)
Gắt gay nắng, mưa dầm dề
Mùa màng mất trắng nhiều bề khó khăn

Đất Cao Bằng giao cho họ Mạc (1669)
Sau mấy lần Trịnh Tạc thảo chinh
Sau theo đề nghị vua Thanh
Bốn châu tạm cắt đất mình trao đi

Đạo Gia Tô, trong ngoài cấm đoán
Bắt người dân phỉ báng giáo điều
Đàng Ngoài giáo sĩ khá nhiều
Trăm ngàn tín hữu đi theo đạo này (1664)

Các giáo sĩ từ Tây phương đến
Theo thương thuyền những chuyến ngang qua
Thương nhân nhưng lại thực ra
Họ là giám mục hay là thừa sai (1669)

Ơ Đàng Ngoài cho tàu được đáp (1672)
Các công ty Anh Pháp giao thương
Mở ra phố điếm, hiệu buôn
Đổi trao sản vật, mua hàng đem ra

Cấm triệt để buôn qua bán lại
Với nước ngoài các loại điểu thương
Nhất là quân dụng tai ương
Ai mà vi phạm khám đường giam ngay


http://chimviet.free.fr/lichsu/tranvietngac/tvns071_ChienLuyQuangBinh/08_img832A.jpg
Sơ đồ Chiến lũy Đàng Trong

Hansy
15-08-2014, 08:51 PM
59- TÌNH HÌNH BẤT ỔN TRIỀU LÊ

BCKMJ2T_XZI

sMQlmLIrA-A

Hansy
16-08-2014, 01:47 AM
- AI LÀM VIỆC NHIỀU HƠN

4NoJphzZ5Eo

Hansy
16-08-2014, 02:08 PM
http://daotao.vtv.vn/wp-content/uploads/2014/05/BAI5_BANDO1686.jpg
Bản đồ Hoàng Sa - 1686

68
LÊ GIA TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1672 -1675)

Năm Tân Hợi lên thay ngôi vị (1671)
Cho anh mình Hoàng đế Huyền Tông
Là người mới chết vừa xong
Triều thần tôn gọi Gia Tông từ này

Năm Nhâm Tí (1672) vua sai Trịnh Tạc
Cùng Trịnh Căn dùng các quân doanh
Ước chừng mười tám vạn binh
Vượt qua phòng tuyến tiến nhanh vào miền

Bị quân Nguyễn bao quanh đánh rát
Sáu tháng sau Trịnh Tạc phải lui
Chiến tranh tạm lắng từ nay
Sông Gianh đành cắt chia đôi hai miền

Đầu tháng tư nhằm năm Ất Mão (1675)
Phủ Trịnh cho khẩn báo vua băng
Cả nhà họ Trịnh bàng hoàng
Vì vua và chúa như tuồng anh em


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/45/HoangSaVN-DongNamA1687.jpg
Quần đảo Hoàng Sa trong bản đồ cổ

Hansy
16-08-2014, 09:45 PM
60- VUA LÊ - CHÚA TRỊNH

byY2j-69NSY

Hansy
17-08-2014, 09:26 AM
- NÀNG ÚT

8Jhh21oE2x4

Hansy
17-08-2014, 06:00 PM
Nguyễn Thị Duệ
nữ tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam

Bà Nguyễn Thị Duệ, sinh ngày 14/3/1596, tại làng Kiệt Đặc (nay là xã Văn An) huyện Chí Linh, tỉnh Hải Duơng bà còn có tên là Du, Diệu Huyền, Ngọc Toàn, Tinh Phi, Vi Đỗ, Lễ Thi.


http://i1143.photobucket.com/albums/n628/caobangpro/news/chuasungphuc.jpg
Chùa Sùng Phúc ở Thị trấn Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng - Nơi thờ bà Nguyễn Thị Duệ (Vi Đồ) được sắc phong thiên thần, thượng đẳng thần của vua Khải Định ngày 25 tháng 12 năm Khải Định thứ 9 (1924). Ảnh: CaoBangPro Online

Từ thuở thiếu thời bà có tư chất thông minh được học hành lại đẹp người, đẹp nết. Bà được gia đình mời thầy họ Cao về dạy học. Hồi còn nhỏ có gia đình ông Nguyễn Quý Nhã sau làm quan nhờ người đến dạm hỏi, bà không ưng thuận và đáp lại bằng bài thơ hán nôm, mang tính khôi hài và diễu cợt.

Năm Quang Thuận thứ 15 (Mạc Bảo Định nguyên niên (l592) quân Lê - Trịnh chiếm được Thăng Long, quân Mạc rút về Hải Dương Ở vùng Nam Sách, Chí Linh rồi từ đó chạy lên Cao Bằng. Năm 1600 vua Mạc Kính Cung được mẹ Vua Mạc Mẫu Hợp gọi đem quân về chiếm Thăng Long vì kinh thành bỏ trống, Nguyễn Hoàng đã rút vào Nam. Khi quân Mạc về Thăng Long thì bị quân Trịnh Tùng ở Thanh Hoá ra bao vây kinh, thành nước sông lên to. Tháng 3 năm 1601 vua Mạc Kính Cung phải rút chạy về Cao Bằng bị bệnh trầm uất được quan tư thiên quản nhạc Bế Văn Phùng và ông Nông Quỳnh Văn cho cung nữ vào múa hát, lập đàn tế trời đất vua mới khỏi bệnh.

Lần thứ 2 Mạc Kính Khoan lại về chiếm Thăng Long năm 1623 bị quân Trịnh Tráng bao vây phải rút chạy. Trong thời gian Mạc Kính Cung và Mạc Kính Khoan đánh Thăng Long không thành, các quan quân sỹ phu theo nhà Mạc lên Cao Bằng trong đó có gia đình bà Duệ.


http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/dn_TS.jpg
Văn miếu Mao Điền Hải Dương- Nơi Nguyễn Thị Duệ được thờ cùng Khổng Tử và bảy vị Đại khoa danh tiếng của Việt Nam. Ảnh: quehuongonline.com

Nguyễn Thị Duệ lên Cao Bằng lúc 10 tuổi (1606) bà giả trai vào học và thi đỗ vào trường Quốc học Bản Thảnh. Năm Bính Thìn, khoa thi thứ 8 (1616) bà đỗ tiến sĩ đầu bảng. Cảm kích tài năng học trò của mình, thầy họ Cao xếp thứ hai thốt lên: Mầu xanh vốn từ màu lam mà ra nhưng lại xanh hơn lam vua Mạc mở tiệc chiêu đãi các vị tân khoa, thấy bà là nữ giả trai lại đỗ thủ khoa, không xử tội bà khi quân mà ban cho bà chức Tinh Phi ví như ngôi sao sáng bay lên bầu trời xanh mời bà vào Ly Cung Đổng Lân để dạy học cho các cung phi, hoàng tử, công chúa.

Năm Kỷ Sửu (l625) vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tự thứ 2 đời chúa Trịnh Tráng. Vua Lê cử tướng Trịnh Kiều lên Cao Bằng chinh phạt bắt được vua Mạc Kính Cung giải về Thăng Long sử tội. Lúc đó Mạc Kính Khoan xung vương (1623) khi còn vương vị Mạc Kính Cung hiệu là Long Thái Hoàng Đế, Mạc Kính Khoan thấy thế lực nhà Lê mạnh hơn nhà Mạc. Nghe theo lời căn dặn của Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn trước khi chết: không nên đối đầu với quân Lê - Trịnh, nên tạm lánh xa để bảo toàn lực lượng, đợi thời cơ lấy lại Thăng Long. Vua Mạc Kính Khoan trả hàng, xin quy thuận nhà Lê, được vua Lê phong chức Thông Quốc Công và được cai trị xứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Mạc Kính Khoan không từ bỏ tước hiệu vua, vẫn mở tại trường Quốc học ở Bản Thảnh để tiếp tục đào tạo nhân tài sau này để hghiệp bền vững. Để giám sát nhà Mạc ở Cao Bằng, vua Lê cử ông Vi Vĩnh Tiền làm đốc trấn Cao Bằng. ông Vi Vĩnh Tiền cử ông Nguyễn Đình Bá là tri châu Hạ Lang sau đó ông về kinh đô rồi bị ốm chết.

Bà Nguyễn Thị Duệ sợ nhà Lê truy tội theo nhà Mạc nên trốn bỏ ly cung vào châu Hạ Lang đi tu ở chùa Sùng Phúc nơi biên ải xa xôi, hẻo lánh. Ở Hạ Lang bà có công trông nom hương khói, tu sửa chùa, lại mở lớp cho dân biết chữ, nâng cao dân trí. Quan Châu Nguyễn Đình Bá biết bà tài cao, học rộng, mến mộ bà nên mới ra bệnh cấm" nhân dân ngoài vùng không được lai vãng đến chùa để che dấu tung tích bà và gọi tên bà là "Vi Đồ" là thầy đồ lúc hàn vi, quan quân nhà Lê biết được nơi ẩn náu của bà tá túc ở Hạ Lang đến không bắt bà mà mời bà về kinh đô năm Tân Mùi (1631) tên xã Lệnh Cấm có từ đó. Để nhớ ơn công đức bà nhân dân Hạ Lang đặt tên bà cho một bản là bản Huyền Du gần chùa Sùng Phúc đến nay vẫn gọi là bản Huyền Du.

Hiện nay còn lưu trữ được sắc phong bà Nguyễn Thị Duệ là thiên thần ở chùa Sùng Phúc với cái tên Vi Đồ:


Sắc Chỉ

"Cao Bằng tỉnh, Hạ Lang châu, Vĩnh Thọ, Lệnh Cấm, Phong Đằng ba xã nối gót đời xưa cùng phụng sự thiên thần Huyền Du, đã tôn làm thần trong sáng, chính đại. Diệu Huyền là trung đẳng thần bảo vệ tổ quốc nhân dân bình yên, cho nên đã tạo cho nhân dân tham vọng, thờ cúng qua 4 lần mở hội đèn rồng. Hội thảo công ơn lại phong tặng thượng đặng thần vì đã có công phù quốc, nay phong sắc này ghi tạc".

Năm Tân Mùi bà Nguyễn Thị Duệ về Thăng Long lúc đó ở Cao Bằng Mạc Kính Khoan vẫn làm vua đến năm 1638 Mạc Kính Khoan mất. Tiếp tục ngôi vua là Thuận Đức Hoàng đế Mạc Kính Vũ ( 1638 - 1677).

Ở kinh thành Thăng Long bà Nguyễn Thị Duệ được mời vào cung vua, phủ chúa để dạy học cho vương phi, hoàng tử, công chúa. Bà được phong chức "Lễ thi" bà quan tâm dạy về giáo lý nhà phật, cùng với bà Trịnh Thị Ngọc Trúc là hoàng hậu vua Lê Thần Tông đồng tác giả pho từ điển chữ nôm nổi tiếng "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" bà được mời xem lại văn bài của các thí sinh đã đỗ đạt trong các kỳ thi hội, để chọn những danh sỹ có đức độ tài năng lỗi lạc ra làm quan giúp nước. Khoa thi năm Tân Mùi niên hiệu Long Đức thứ 3 có ông Nguyễn Minh Triết người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh đỗ đầu bảng đã nói "văn của tôi cả triều không ai hiểu nổi hết đâu, hoạ chăng chỉ có chị ta là Lễ thi thôi".

Chúa Trịnh ban lệnh chỉ: các thứ thuế ở quê bà đều để làm lộc bổng cho bà (được ghi trong bia: "lập cử tụ bi") tại chùa Phổ Chiếu, xã Kiệt Đặc khắc năm Thịnh Đức nguyên niên (1653) bà có sáng kiến dạy học từ xa để khuyến khích các sỹ tử ở huyện làm bài, đề bài do bà soạn rồi gửi lên kinh thành để bà chấm, cho nên trong xã Kiệt Đặc có 3 người đỗ tiến sỹ ở thế kỷ thứ XVII. Bà còn trích 10 mẫu ruộng để thưởng cho các tân tiến sĩ, gia ký có hai câu thơ ghi lại:

Tháp hoa đầu núi mây tinh sương, người xưa ca ngợi bà như Nghiêu Thuấn trong giới nữ là thần tiên trong cõi đời, bà còn để lại nhiều bài thơ hán nôm trong đó có câu "nữ nhi dù đặng như lề, ắt là tay thiếp kém gì trạng nguyên".

Tại đình thờ, xã Kiệt Đặc có pho tượng vua bà Nguyễn thị Duệ và một sắc phong thời Nguyễn:


Sắc Chỉ

"Xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương thờ phụng chánh vương phi, thị nội cung tần lễ sư Nguyễn Thị Ngọc tôn thần, người có công giúp nước , che chở cho dân rất linh ứng từ xưa, nay chính vị, Trẫm mừng 40 tuổi liền ra bảo chiếu, kịp ban ân nhân lễ trọng thăng trật phong làm Tế Linh dư bảo trung hưng, trung đẳng thần chuẩn theo mà thờ cúng Thần sẽ bảo trợ cho lê dân".

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) đến thờ bà ở xã Kiệt Đặc có đôi câu đối:
Lễ sư sinh thông tuế
Nhất kính chiếu tam vương

Là một tấm gương chiếu sáng ba đời vua là vua Lê Thần Tông (1619- 1643), Lê Chân Tông ( 1643 - 1649), Lê Thần Tông (tái nhiệm làm vua 1ần thứ hai 1649- 1662).

Ông Nguyễn Huy Đạt và Trần Thanh Giản đã dịch thơ ca ngợi sự tích bà Nguyễn Thị Duệ:

Lạ thay một kính chiếu tam vương
Kiệt Đặc, Tinh Phi vốn cố hương
Đẹp tuyệt trần gian thêm sắc sảo
Mất còn truyện ấy, thây dâu bể
Mến trọng ơn này tự phấn hương
Gia ký hại câu còn để lại
Tháp hoa đầu nói mây tinh sương.

Bài thơ chữ hán "tinh phi tháp cổ" dựng tại văn chỉ phủ Nam Sách khắc năm Gia Long nguyên niên (l802)

Tay ngọc bẻ cành cao
Từ xưa núi sông này
Hoa cỏ tự nở, tàn
Sắc núi vẫn trong xanh
Mặt gương in tháp cổ
Đến nay còn âm u
Ngư tiều cùng vấn đáp
Tiếng thu sao xào xạc

Khi bà Nguyễn Thị Duệ tuổi đã cao bà lập ra qui ước: Những ngày giỗ, ngày sinh của bà khi năm tuổi, lấy ngày 14 tháng 3 là ngày sinh của bà, cúng chạy hương hoa oản chuối ngày qua đời là ngày 08 tháng 11 khi bà đã ngoài 80 tuổi không ghi rõ năm bà mất, bà được mai táng cạnh mộ tổ tiên và xây tháp bằng đất nung xã Kiệt Đặc.

Trong lịch sử dân tộc Nguyễn Thị Duệ là ngôi sao sáng trên bầu trời Đại Việt, về tài sắc và đức độ người tiến sĩ đầu tiên của nước ta làm rạng danh giới nữ lưu Đất Việt, bà là người đầu tiên dạy học từ xa. Bà được tôn vinh là danh nhân văn hoá thế kỷ XVII. Vinh dự cho tỉnh Cao Bằng nơi bà học và đỗ tiên sĩ, có tiếng vang trong lịch sử ván hoá, giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Xuân Toàn
Nguồn: http://mactrieu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=990:nguyn-th-du-n-tin-s-u-tien&catid=29:vn-hoa-giao-duc&Itemid=50

Hansy
18-08-2014, 01:08 AM
- BỐN NGƯỜI TÀI

Ml98hMHHAdE

Hansy
18-08-2014, 10:28 AM
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/images/stories/nguyen%20cong%20tru.jpg
Nguyễn Công Trứ

69
LÊ HY TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1676 -1704)

Để nối ngôi chúa đem thế tập
Hoàng đế là Duy Cáp đưa lên
Vĩnh Trị năm ấy nguyên niên
Hy Tông hoàng đế rao truyền trong dân

Phạm Công Trứ là quan Đông Các
Một người hiền tháo vát tài ba
Cũng là một vị sử gia
Có nhiều trước tác như là: Tục Biên

Tám năm trước sanh tiền chưa mất
Trịnh Tạc cho đánh đất Cao Bằng
Đời Mạc hơn tám mươi năm
Đến đây chính thức diệt vong hoàn toàn

Ở Đàng Trong, Chúa ban tướng cũ
Của nhà Minh, đông phố định cư
Mạc Cửu được cấp đất cho
Mở mang cương thổ kể từ Hà Tiên

Đất phía Nam một miền sung túc
Mà Đàng Ngoài bão lụt liên miên
Thế mà còn sửa chùa chiền
Làm cho dân khổ hao tiền tốn công

Nguyễn Sĩ Dương, hết lòng soạn sử (1681)
Ông đã biên Thực Lục triều Lê
Trung hưng công nghiệp nhiều bề
Tục biên sử kí Lê Huy viết lời

Bài đề tựa vua sai biên soạn
Sửa những phần khôn đúng bổ sung
Giữ lại bài của Lê Tung
Làm bài tổng luận vô cùng tuyệt luân


http://sotaydulich.com/userfiles/image/2011/02/10/Sotaydulich_Doc_mien_dat_nuoc_Di_tich_ho_Mac_o_Ha_ Tien_01.jpg
Mạc Cửu

Hansy
18-08-2014, 07:34 PM
61- TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

nNADwYKCoy0

Hansy
18-08-2014, 11:56 PM
- CHA MẸ NUÔI CON

ZiteZUGI9qs

Hansy
19-08-2014, 09:23 AM
http://baocaobang.vn/Uploaded/baichuyen/2012_07_06/thanh%20na%20lu_copy.jpg
Triều Mạc ở Cao Bằng



Sấm Trạng Trình
được giải mã
thời nhà Mạc ở Cao Bằng

Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm tên thật là Nguyễn Văn Đại, quê làng Trung Anh, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Cụ sinh năm 1495, đỗ Trạng Nguyên năm Ất sửu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh , để lại cho đời sau nhiều sấm tiên tri, thể hiện một tài năng kiệt xuất.

Khi nhà Mạc bị thất thế ở Thăng Long, cho người về hỏi cụ vào năm 1585, cụ bày kế sách để bảo toàn cho nhà Mạc rằng:

“Cao Bằng tuy thiểu, khả dung sổ thế
(Cao Bằng tuy nhỏ nhưng vẫn dung thân ở đây được vài đời)”.

Theo lời khuyên của cụ năm (1592 – 1685, kể cả 8 năm ở Phục Hòa) nhà Mạc đã lên Cao Bằng để trấn giữ, trải 3 đời vua.

Rồi cụ để lại câu đối, cho con cháu họ Mạc:
Tứ bách niên tiền chung phục thủy
Thập tam thế hậu dị nhi đồng

Dịch là:
Bốn trăm năm trước cùng đồng lòng tôn thờ một tổ
Mười ba đời sau tuy khác họ nhưng vẫn là một gốc một nguồn

Câu đối này tìm thấy ở từ đường họ Lều (gốc Mạc) tại thôn Nhị Khê, huyện Thường Tín nay thuộc thành phố Hà Nội.

Câu sấm này ngụ ý gửi tới hậu duệ của nhà Mạc là:
Chúng ta chung lòng thờ một tổ nhà Mạc, nếu phải ly tán thì 400 năm sau khoảng 13 đời người dù có phải thay họ đổi tên, nhưng chúng ta vẫn tìm thấy nhau, vẫn là một gốc, một cội nguồn.

Để tránh bị nhà Lê - Trịnh tiêu diệt, nhà Mạc chủ trương thay họ đổi tên, mai danh ẩn tích nên có quy ước đổi họ là “Khử túc bất khử thủ” tức là khi đổi họ chữ Mạc không bỏ nét thảo đầu mà bỏ phần dưới là chữ Việt ở giữa và chữ đại ở dưới.

Ở Cao Bằng, huyện Hạ Lang, các xã Lý Quốc, Thắng Lợi, Kim Loan, Bằng Ca… ở sát biên giới vẫn giữ họ Mạc, có một số chi đổi ra họ Thẩm, họ Hoàng…

Ở Trùng Khánh họ Mạc đổi thành các họ Mông, Thẩm, Tăng. Còn vùng Đàm Thủy Bản Giốc, Bản Rã, Lũng Phiac, Kéo Thàn vẫn giữ họ Mạc.

Ở Nguyên Bình vùng Minh Tâm, Nà Bao có chi đổi ra họ Dương, họ Ma.

Ở Quảng Uyên vùng Chí Thảo, Ngọc Động đổi thành họ Ma.

Ở các huyện khác trong tỉnh, nhiều hộ không còn gia phả chỉ truyền miệng cho nhau hết đời này sang đời khác là gia đình mình gốc họ Mạc.

Hầu hết dòng họ Mạc sống xen kẽ cùng các dân tộc khác ở các bản làng, còn đổi cả dân tộc là dân tộc Tày - Nùng…

Ngày nay các nhà sử học đánh giá lại:
Nhà Mạc là một vương triều có công dựng nước và giữ nước. Ở Cao Bằng nhà Mạc có công xây dựng đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc, cùng đoàn kết bảo vệ vững chắc biên cương tổ quốc, tạo điều kiện cho chúa Nguyễn rảnh tay mở rộng bờ cõi về phía Nam.

Ở Trung ương thành lập Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, các tỉnh thành lập ban liên lạc họ Mạc để tập hợp lại dòng họ Mạc đã thay tên đổi họ, đổi cả dân tộc cùng đoàn kết tìm về cội nguồn dòng họ, cùng nhau phấn đấu xây dựng quê hương Cao Bằng giàu đẹp trong thời đại mới.

Nguyễn Xuân Toàn
Nguồn: www.caobang.gov.vn


http://1.bp.blogspot.com/-Uo034iO-OZg/T5ZjWCWrW8I/AAAAAAAADQs/LiPBJZA3Vgs/s1600/p2.PNG
Thành quách nhà Mạc ở Cao Băng

Hansy
20-08-2014, 01:51 AM
- Bán Tóc Đãi Bạn

e1kJ8e1gNX0

Hansy
20-08-2014, 12:58 PM
http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/luoc_do_cac_cuoc_khoi_nghia_nong_dan_o_dang_ngoai_ the_ki_xviii_500.jpg
Các cuộc Khởi nghĩa của nông dân ở Đàng Ngoài

70
TRỊNH CĂN
(1682 -1709)

Con Trịnh Tạc: Trịnh Căn thế tử
Được truyền ngôi nối giữ tước vương
Sửa sang chính trị mối rường
Ngoại giao khôn khéo chỉnh trang nhiều bề

Hoàng đế Pháp Louis 14 (1682)
Gửi quốc thư đến chốn triều đình
Trịnh Căn chuẩn thuận hoan nghênh
Gửi thư phúc đáp tỏ tình bang giao

Lê Hy Tông yêu cầu Trung Quốc (1688- 1689)
Trả lại vùng đất nước biên cương
Mà dân Thanh đã lấn đường
Vượt qua cột mốc giao thương hai đàng


http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/le_duy_matpicture5_500.jpg

Hansy
21-08-2014, 01:18 AM
- BỢM GẶP BỢM

J9l5h5d-kEg

Hansy
21-08-2014, 06:08 AM
Tìm về dấu tích
Trường Sa cát lũy

Sau một cuộc hành trình dài để tìm trong lớp bụi thời gian những dấu tích còn lại của lũy Trường Sa (hay còn gọi là Trường Sa cát lũy)-Di tích lịch sử có từ thế kỷ XVII, chúng tôi mới cảm nhận hết giá trị lịch sử của những di sản văn hóa do cha ông để lại. Không chỉ tạo thành một hệ thống phòng thủ vững chắc của Đàng Trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, lũy Trường Sa còn có tác dụng ngăn bão và gió cho ngư dân bãi ngang, hạn chế cát bay lấn ruộng, góp phần ổn định địa hình ven biển lúc bấy giờ.


http://www.baoquangbinh.vn/dataimages/201404/original/images568205_anh9.jpg
Bia di tích lịch sử quốc gia lũy Trường Sa ở thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh.

Một ngày giữa tháng tư lịch sử, chúng tôi đã thực hiện một cuộc thực địa về vùng biển xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới để tìm lại những dấu tích của lũy Trường Sa, là một trong bốn lũy chính của hệ thống lũy Thầy (hay còn gọi là lũy Đào Duy Từ) ở Đồng Hới.

Hòa lẫn trong sức sống rộn ràng của người dân nơi đây, sự đổi thay diệu kỳ của cảnh quan biển trời sông nước, chúng tôi vẫn tìm thấy một vài dấu tích còn lại của lũy Trường Sa. Dẫu rất khó để hình dung được chiều dài của lũy (theo một số tài liệu, sử sách ghi lại là 7 km) bởi quá trình đô thị hóa, nhưng qua khảo sát thực địa, chúng tôi được biết ngoài chiều dài của lũy còn có những lũy ngang từ bờ biển Nhật Lệ, cắt địa hình (xã Bảo Ninh ngày nay) ra nhiều đoạn.

Dấu vết các lũy ngang trên vùng biển Bảo Ninh thường gặp bây giờ là ở làng Sa Động và làng Mỹ Cảnh. Ở đây xưa kia có đồn Sa Chùy (còn gọi là Mũi Dùi) và đồn Sa Phụ. Đồn Sa Chùy ở ngay cửa biển Nhật Lệ, chỗ đồi 10,9 m hiện nay ở gần cuối thôn Mỹ Cảnh. Đồn Sa Phụ ở ngay ngọn đồi trước mặt trụ sở UBND xã Bảo Ninh (thôn Sa Động) bây giờ. Trước chiến tranh chống Mỹ, ở đây người dân vùng biển Bảo Ninh còn thấy một đồi đất sét nằm trong lòng cát.

Đồng hành chuyến thực địa với chúng tôi là ông Trần Lùm, Chủ tịch Hội Người Cao tuổi xã Bảo Ninh và ông Nguyễn Mạnh Điền, 77 tuổi, nguyên cán bộ Phòng Văn hóa-Thông tin, UBND thành phố Đồng Hới. Bằng tất cả sự nhiệt tình và hiếu khách của người dân bản địa, vừa điền dã, 2 ông vừa tranh thủ trao đổi, trò chuyện với chúng tôi những thông tin, kiến thức vốn có của mình về di tích lịch sử lũy Trường Sa nói riêng và lũy Thầy nói chung.

Theo đó, lũy Thầy là tên gọi của cả hệ thống thành lũy phòng ngự từ thời chúa Nguyễn xây dựng lên để chống lại chúa Trịnh, giữ cửa Nhật Lệ và Động Hải. Danh từ lũy Thầy chính là do Đào Duy Từ, quân sư chúa Nguyễn hoạch định và tự thân chỉ huy công trình. Ông là một trong những vị công thần khai quốc, có công lớn trong việc giúp họ Nguyễn xây dựng vương triều Nguyễn ở Đàng Trong. Đào Duy Từ được các chúa Nguyễn gọi là Thầy, nên các thành lũy do ông hoặc tướng lĩnh sau ông xây dựng nên đều được nhân dân gọi là lũy Thầy để tỏ lòng tôn kính.

Hệ thống lũy Thầy nằm trong vùng địa lý từ phía Nam sông Dinh đến phá Hạc Hải thuộc trung tâm địa giới tỉnh Quảng Bình. Chiều dài vùng địa lý này không quá 30 km, chiều ngang nơi hẹp nhất không quá 3 km. Hệ thống lũy Thầy ở Đồng Hới gồm có 4 lũy chính gồm: lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ, lũy Trường Sa và lũy Trấn Ninh. 4 chiến lũy này đã tạo thành một hệ thống vững chắc của Đàng Trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, tạo nên trận đồ bát quái ngăn chặn, đẩy lùi hầu hết các cuộc tấn công của quân Trịnh.


http://www.baoquangbinh.vn/dataimages/201404/original/images568204_anh8.jpg
Một trong những dấu tích của lũy Trường Sa tại thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh.

Lũy Trường Sa được xây dựng năm 1633. Không chỉ có tác dụng về quân sự, lũy Trường Sa còn có tác dụng ngăn bão và gió cho ngư dân bãi ngang, hạn chế cát bay lấn ruộng, góp phần ổn định địa hình ven biển. Theo truyền tụng của nhân dân ven biển từ Bảo Ninh (thành phố Đồng Hới) đến Hải Ninh (huyện Quảng Ninh), lũy Trường Sa do Nguyễn Hữu Dật xây dựng, khởi đầu từ cửa Nhật Lệ và chạy theo bờ biển đến vùng bãi ngang Hải Ninh, ngang chiều với hướng lũy Trường Dục ở mép ngoài phá Hạc Hải. Một vài tài liệu khác còn ghi lại vào năm 1633, khi chúa Trịnh sai Trấn thủ Nghệ An là Trịnh Tác đem thủy quân đóng đồn ở Kỳ La, Trịnh Đệ đóng đồn ở Bắc Bố Chính chuẩn bị cho cuộc tiến công vào cửa biển Nhật Lệ thì Chúa Nguyễn sai Nguyễn Mỹ Thắng và Nguyễn Hữu Dật đưa quân chống cự.

Ở phía Nam cửa Nhật Lệ, có một bãi cát rộng, nếu quân Trịnh đổ bộ ở bãi cát này để bọc ra lũy Động Hải thì quân Nguyễn bị bao vây giữa đạo quân thủy bộ của quân Trịnh. Từ thực địa của cuộc chiến, Nguyễn Hữu Dật đã chỉ đạo đắp ngay trên bãi cát ấy một lũy dài, gọi là lũy Trường Sa để bảo vệ lũy Động Hải. Ở khu vực giữa 2 lũy Trường Sa và Trường Dục có hệ thống đồn Dinh Mười tạo ra thế buộc đối phương phải chiến đấu trong vùng có đầm lầy Võ Xá mà quân Trịnh rất khiếp sợ.

Nhìn lại những dấu tích của lũy Trường Sa ngay chính trong khu nghỉ dưỡng cao cấp Sunspa Resort, thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh và được chứng kiến cảnh dân cư đông đúc, tàu thuyền chật bến, những hàng cây cao phòng hộ chống gió bão ngày nay, nhân dân vùng biển Bão Ninh nói riêng, Quảng Bình nói chung đều nhớ đến công ơn của Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật, những người đã đắp lũy xây thành để vừa ngăn được địch, vừa chống được thiên tai giúp mỗi một chúng ta có được những ngày bình an và hạnh phúc hôm nay.

Hiền Chi
Nguồn: http://www.baoquangbinh.vn/dat-va-nguoi-quang-binh/201404/tim-ve-dau-tich-truong-sa-cat-luy-2114800/

Hansy
21-08-2014, 06:50 PM
- SỰ TÍCH CHIM ĐA ĐA

Y7F8wmsTNC8

Hansy
22-08-2014, 01:30 PM
http://travel.zizi.vn/Resources/Editor/Images/diadanh/kham-pha-ngo-mon-hue3.jpg
Cửa Ngọ Môn – Kinh thành Huế

71
NGUYỄN PHÚC TRĂN
(1687 -1691)

Nguyễn Phúc Trăn được trao ngôi chúa
Năm vừa rồi (1687) chọn lựa dời đô
Phú Xuân xây dựng cơ đồ
Thành trì gia cố bồi tô miếu đường

Ông cũng còn gọi là chúa Nghĩa
Chọn làm người kế vị tiên vương
Thuế tô tha giảm mọi đường
Tính tình rộng rãi nhún nhường khiêm cung

Cho tiên phong đem quân cứu viện
Vì Chân Lạp nội chiến tương tàn
Bổ sung cho tướng Dương Lâm
Tinh binh thiện chiến định an cả vùng

Chúa Nguyễn Phúc cuối cùng đánh bại
Vua Chiêm Thành ở mãi Đàng Trong
Bởi Chiêm không chịu phục tùng
Lại đem quấy nhiễu ở vùng Diên Ninh


http://www.hue.vnn.vn/media/images/tnanhan/vanhoa/kinh-thanh-Hue_phuong-PhuHo.gif
Tổng thể Kinh thành Huế

Hansy
23-08-2014, 01:45 PM
62- TRỊNH ĐÁNH MẠC Ở CAO BẰNG
TRỊNH -NGUYỄN PHÂN TRANH

6iwJwlD6aQs

Hansy
24-08-2014, 03:16 PM
http://cms.kienthuc.net.vn/zoom/500/uploaded/maianh/2014_04_11/ktt_11.4_kim_long1_kienthuc_kzso.jpg
Sơ đồ thủ phủ Kim Long – Huế


72
NGUYỄN PHÚC CHU
(1691 - 1725)

Vừa trưởng thành thì cha tạ thế
Nguyễn Phúc Chu kế vị phụ vương
Một người am hiểu tinh tường
Lo toan chính sự mở mang cõi bờ

Đễ giữ vững cơ đồ xã tắc
Chúa chọn người sát hạch nghiêm minh
Quan tâm đãi sĩ chiêu hiền
Cầu lời nói thẳng ngục hình giảm khinh

Phủ Gia Định khai sinh gần cuối
Năm Mậu Dần (1698) triều đại Hiển Tông
Chưởng cơ Hữu Kính được phong
Làm quan Kinh lược vào trong xây đồn

Xứ Sài Gòn lập doanh Phiên Trấn
Đất Đồng Nai là trấn Biên Dinh
Sàigòn thuộc huyện Tần Bình
Minh Hương thị xã dành riêng Hoa Kiều

Đất Gia Định có nhiều sông rộng
Phía Đông Nam đất ruộng Cần Giờ
Tây Bắc dựa núi Lấp Vò
Có sông Ngưu Chữ bến đò Thủ Thiêm

Năm Canh Thìn (1700) Đàng Trong thao diễn
Lấy ngựa nòi nổi tiếng xung quân
Trong khi ngoài Bắc đăng quan
Mở ra thi Hội đỗ gần hai mươi

Năm Nhâm Ngọ (1702) nước trôi đê vỡ
Ơ Thanh Hoa nước lội quá đầu
Mất mùa hạn hán năm sau
Nhân dân sơ tán lao đao vô cùng


http://img714.imageshack.us/img714/7544/huepagode.jpg
Huế - 1031

Hansy
24-08-2014, 11:20 PM
- HOA LÀI CẮM BÃI PHÂN TRÂU

w81CJ--GGmw

Hansy
25-08-2014, 12:03 PM
NGUYỄN HỮU CẢNH
người xác lập chủ quyền cho người Việt
tại vùng đất Sài Gòn-Gia Định


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d7/Ch%C3%A2n_dung_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_C%E1%BA% A3nh.jpg/640px-Ch%C3%A2n_dung_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_C%E1%BA% A3nh.jpg
Chân dung Nguyễn Hữu Cảnh tại dinh Nguyễn Hữu Cảnh, thuộc xã Kiến An, Chợ Mới, An Giang

Nguyễn Hữu Cảnh (1650 - 1700), người con ưu tú của vùng đất Quảng Bình nhiều nắng gió đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tổ chức khai phá, mở mang bờ cõi, thiết lập bộ máy hành chính Nam Kỳ, xác lập chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên vùng đất Nam bộ, định hình nước Việt Nam thành dải đất hình chữ S như ngày nay.

Công lao to lớn của ông đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận, phong tước hiệu Lễ Thành hầu - Khai quốc công thần- Thượng đẳng công thần.

Nguyễn Hữu Cảnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc danh là Lễ, người thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì tổ tiên của ông là Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc - vị khai quốc công thần thời nhà Đinh, hậu duệ 9 đời của Nguyễn Trãi- vị đệ nhất khai quốc công thần thời nhà Lê. Ông nội là quan tham chiến Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, nên theo phò chúa Nguyễn vào Đàng Trong.

Bước dừng chân đầu tiên của dòng Nguyễn Hữu vào năm 1609 do Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn định hướng là đất Quảng Bình, khi ấy người con trai thứ năm của ông là Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật (cha của Nguyễn Hữu Cảnh) mới được 5 tuổi. Trưởng thành, Nguyễn Hữu Dật cùng vợ Nguyễn Thị Thiện đã cùng đồng cam, cộng khổ với chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm luyện tập võ nghệ, rèn luyện bản thân với niềm hy vọng lớn lao được cống hiến sức mình cho chúa Nguyễn. Trí thông minh cùng sự nỗ lực hết mình của bản thân, ông đã lập nên nền hành chính Nam Kỳ- một trung tâm đô hội của vùng đất phía Nam.


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0e/%C4%90%E1%BB%81n_th%E1%BB%9D_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%B B%AFu_C%E1%BA%A3nh_t%E1%BA%A1i_C%C3%B9_lao_Ph%E1%B B%91.jpg/640px-%C4%90%E1%BB%81n_th%E1%BB%9D_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%B B%AFu_C%E1%BA%A3nh_t%E1%BA%A1i_C%C3%B9_lao_Ph%E1%B B%91.jpg
Tượng Nguyễn Hữu Cảnh tại đền thờ ông ở Cù lao Phố, Biên Hòa, Việt Nam.

Hành trình mở cõi về phía Nam của cha ông ta được tính từ thời Lý, trải qua các triều đại phong kiến lãnh thổ Đại Việt được mở rộng dần cho tới năm 1635, chúa Nguyễn Phúc Nguyên dời thủ phủ vào Kim Long, bên bờ sông Hương và Phú Xuân - Huế ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam. Đối với vùng đất Nam Bộ cho đến thế kỷ XVII vẫn còn hoang vu, mà nhà truyền giáo Alexandre de Rhode đã mô tả “quạnh hiu, hoang mạc” và chú thích “không có vật gì thuộc về sự sống”, cuốn Phủ biên tạp lục cũng khẳng định: “…từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm” [1, tr 439-440]. Trong một thời gian khá dài (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII), vùng đất Nam Bộ “hình như đang ở trong quá trình hoang hóa do sự tan rã cơ cấu dân cư. Những nhóm người thưa thớt chỉ còn quần tụ ở một số vùng Vũng Tàu- Bà Rịa, Prei Nokor, Sóc Trăng, Trà Vinh, Thất Sơn,…

Trừ một vài nhóm lẻ tẻ người Khmer nghèo khổ đi tìm cuộc sống … , trong một thời gian dài vùng hoang dã Nam Bộ là nơi bôn tẩu, ẩn nấp của những phe phái thất thế, những “phó vương”, “đệ nhị vương”,… khi tranh giành quyền lực ở triều đình Chân Lạp, nơi tụ họp của các phần tử bất hảo, nơi những người Khmer nghèo bị áp bức bóc lột đến lánh nạn,… Những người dân này không bị ràng buộc bởi một chính quyền nào” [2, tr 37]. Điều đó đã thể hiện khả năng quản lý yếu cùng với sự thờ ơ vùng đất này của Chân Lạp tạo điều kiện cho chúa Nguyễn nhanh chóng mở rộng lãnh thổ vào Đàng Trong. Năm 1691, vua Chiêm Thành thường đưa quân vượt biên giới, sát hại dân Việt ở Diên Ninh (Diên Khánh), tình hình biên giới Việt- Chiêm căng thẳng.

Năm Quý Dậu (1693) vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc Chu phái quan tổng binh Nguyễn Hữu Cảnh đem binh bình định vùng biên cương, “bắt được Bà Tranh và bọn thần tử là Tả trà Viên, Kế bà Tử cùng thân thuộc là Bà Ân đem về Phú Xuân. Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận phủ, cho Tả trà Viên, Kế bà Tử làm chức Khám lý và ba người con của Bà Ân làm đề đốc giữ Thuận phủ, lại bắt phải đổi y phục theo như người Việt Nam để phủ dụ đất Chiêm Thành. Qua năm sau lại đổi Thuận phủ ra làm Thuận Thành trấn, cho Kế bà Tử làm đô đốc” [3, tr 81- 82]. Vị quan trấn thủ đầu tiên vùng đất mới mở- Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng thiết lập hệ thống cai quản, tổ chức nhân dân khẩn hoang, ổn định cuộc sống, đề ra chính sách hòa đồng sắc tộc Chăm - Việt. Công việc bình định vừa xong, một nhóm người Thanh, đứng đầu là A Bân xúi giục bè đảng dấy loạn, ông lại nhận chỉ lệnh đi dẹp loạn và được cử làm trấn thủ dinh Bình Khương (nay là Khánh Hòa, Ninh Thuận).


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/45/Dinh2.jpg/800px-Dinh2.jpg
Dinh Ông ngay tại vàm Lòng Ông Chưởng, xã Long Điền, thị trấn Chợ Mới, An Giang

Tháng hai, năm Mậu Dần (1698), vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, xác định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mới. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại cù lao Phố còn gọi là Đông Phố (cảng sầm uất nhất miền Nam lúc bấy giờ). Ông cho đặt bản doanh tại cù lao Phố, nghiên cứu vùng đất này và nhận xét đất đai rộng mênh mông nhưng toàn là sình lầy, rừng rậm trong khi đó nhân lực thì ít, di dân lập ấp tự do không quy củ, đời sống sinh hoạt của cư dân quá khó khăn. Vùng đất đai hoang hóa, hiểm trở, sông rạch chằng chịt, gai góc ngút ngàn, đầy rẫy hang ổ của các loài mãnh thú, ác ngư, thật đúng là “ Đồng Nai địa thế hãi hùng; Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um…”.

Với ý chí quả cảm, bất chấp tất cả mọi khó khăn, ông nhanh chóng vạch ra kế sách chiêu mộ lưu dân, khuyến khích khai hoang, ổn định dân tình, dàn xếp biên cương, thiết lập cơ sở hành chính thôn xã, lập Gia Định phủ trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền và chính thức cho sát nhập vào bản đồ Đại Việt (hai vùng Tân An và Gò Công chưa nội thuộc chủ quyền người Việt). Ông “lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Đặt Trấn Biên dinh (tức là Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (tức là Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm Thanh Hà xã; những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm Minh Hương xã. Những người ấy thuộc về sổ bộ nước ta” [3, tr 81- 82].

Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai quản. Nha thuộc có 2 ty là Xá sai ty (coi việc văn án, từ tụng, dưới quyền quan Ký lục) và Lại ty (coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng đầu). Quân binh thì cơ, đội, thuyền, thủy bộ binh và thuộc binh để canh phòng thôn trang và bảo vệ chủ quyền vùng đất mới mở. Phủ Gia Định lúc bấy giờ từ Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Đất đai được mở rộng ngàn dặm, dân chúng “tứ vạn hộ” được quy tụ thành các xóm làng có sổ đinh, sổ điền. Tất cả người Hoa cùng đều nhập sổ bộ nước ta, nhưng theo cách quản lý của Nguyễn Hữu Cảnh thì người Hoa tập trung sinh sống ở hai nơi: Thanh Hà xã, huyện Phước Long (Đồng Nai, Biên Hòa) và Minh Hương xã, huyện Tân Bình (Sài Gòn, Bến Nghé). Để đảm bảo thương mại phát triển, sự giao lưu thông suốt giữa các vùng dân cư trong Phủ, ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với cù lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và Gò Vấp.


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/9/9f/Dinh_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_C%E1%BA%A3nh.jpg/800px-Dinh_Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_C%E1%BA%A3nh.jpg
Dinh Nguyễn Hữu Cảnh ở xã Kiến An, Chợ Mới, An Giang.

Nhờ vậy, tàu thuyền chở hàng hóa có thể ra vào một cách dễ dàng. Đặc biệt, bến tàu Châu Đại Phố của nhóm thương nhân người Hoa đã được củng cố lại, đảm bảo hoạt động quy củ với tên gọi mới cảng Đại Phố. Dân chúng được chiêu mộ chủ yếu từ châu Bố Chánh (Quảng Bình), Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn đến vùng đất mới làm ăn, bởi vậy số dân lúc bấy giờ đã lên tới 4 vạn hộ, yên tâm chung vai gánh vác công cuộc mở cõi. Cuộc sống của dân cư nhanh chóng ổn định và khá phát triển. Trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đề cập: Hàng năm vào tháng 11, tháng 12- tháng giã thành gạo, bán lấy tiền để ăn tết chạp. Từ tháng giêng trở đi là không làm việc xay giã. Bình thời chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa lĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp, ít có vải bố. Đất ấy nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ. Người buôn có chở thuyền lớn thì tất đèo theo xuồng nhỏ để thông đi các kênh. Từ cửa biển đến đầu nguồn đi 6- 7 ngày, hết thảy là đồng ruộng bằng phẳng, bát ngát, rất thích hợp trồng các loại lúa nếp, lúa tẻ, gạo đều trắng dẻo.

Từng bước từng bước một, chủ quyền của người Việt được xác lập trên vùng đất Nam Bộ. Tổ chức bộ máy chính quyền từ cấp dinh, trấn cho đến tận các thôn, xã được thống nhất, Nhà nước quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên. Sài Gòn- Gia Định đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng đất mới. Như vậy, tính từ thời điểm cuộc hôn nhân Chey Chetta II- Ngọc Vạn 1620, qua công chúa Ngọc Vạn (hoàng hậu Chân Lạp), người Việt được tự do vào khai hoang, kinh doanh ở Prey Nokor, Đồng Nai (Biên Hòa), Mô Xoài (Bà Rịa)… ngày càng nhiều. Mối quan hệ giữa người Chân Lạp và người Việt thân tình, thường xuyên giúp đỡ nhau; đến năm 1698, chủ quyền người Việt được xác lập chính thức từ Đồng Nai đến bên bờ tả ngạn sông Tiền, nhưng bước khai phá của người Việt đã vượt qua sông Tiền, sông Hậu tiến sát đến Cà Mau, Hà Tiên. Người Việt đã vượt biển và nhận thấy khả năng giao lưu khá thuận lợi bằng hệ thống sông rạch của vùng đất Nam Bộ. Bằng khối óc, đôi bàn tay khéo léo, mồ hôi, nước mắt, xương máu những con người đó đã biến miền đất hoang sơ thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường ngày càng phồn thịnh. Điều này khẳng định xu thế phát triển về phương Nam của người Việt trong lịch sử.


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b4/%C4%90%C3%ACnh_Long_Ki%E1%BA%BFn.jpg/800px-%C4%90%C3%ACnh_Long_Ki%E1%BA%BFn.jpg
Đình thờ Nguyễn Hữu Cảnh tại Long Kiến

Năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu đắp lũy Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam cướp bóc dân buôn người Việt. Tướng Long môn là Trần Thượng Xuyên bấy giờ đóng giữ Doanh Châu (cù lao Giêng) báo lên. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành hầu
Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất cùng Phó tướng Phạm Cẩm Long, Tham tướng Nguyễn Hữu Khánh đem quân lính, thuyền chiến hợp cùng tướng Trần Thượng Xuyên lo việc đánh dẹp và an dân. Lực lượng thủy binh của ông đã tiến thẳng đến thành La Bích (NamVang), đánh tan quân Nặc Thu. Vua Chân Lạp đầu hàng, nơi đây Nguyễn Hữu Cảnh sử dụng chính sách đoàn kết các dân tộc, không phân biệt đối xử dù là Khmer, Hoa hay Việt, khuyến khích giữ gìn tình thân thiện, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, dân chúng tin theo.

Tháng 4 năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến kéo về đóng ở cồn Cây Sao còn gọi là cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc, sau này dân địa phương nhớ ơn ông nên gọi là cù lao Ông Chưởng (nay thuộc chợ Mới, An Giang), báo tin thắng trận về kinh. Theo Gia Định thành thông chí thì tại đây, một thời gian ông bị “nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho) thì mất [4, tr 179] để lại bao nuối tiếc thương của nhân dân Đại Việt. Mộ phần của ông được an táng tại cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai). Năm 1802, sau khi được cải táng về địa táng tại Thác Ro, Trường Thủy, huyện Lệ Thủy theo câu sấm của tiền nhân dòng họ: “Thượng Yên Mã, hạ đùng đùng, trung trung nhất huyệt” (Trên là núi Yên Mã, dưới có phá Hạc Hải, giữa nhất quyết hạ huyệt).


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/89/%C4%90%C3%ACnh_Ch%C3%A2u_Ph%C3%BA_t%E1%BA%A1i_ch%E 1%BB%A3_Ch%C3%A2u_%C4%90%E1%BB%91c.jpg/800px-%C4%90%C3%ACnh_Ch%C3%A2u_Ph%C3%BA_t%E1%BA%A1i_ch%E 1%BB%A3_Ch%C3%A2u_%C4%90%E1%BB%91c.jpg
Đình Châu Phú tại chợ Châu Đốc (An Giang, Việt Nam), lập ra để thờ tướng Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700).

Sự khai phá, xác định chủ quyền người Việt ở vùng đất mới của Nguyễn Hữu Cảnh là cơ sở để chúa Nguyễn từng bước thu phục các vùng đất khác. Từ khi Gia Định phủ ra đời, thế lực của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ phát triển ngày càng mạnh, ngược lại thế lực của Chân Lạp đang suy yếu do mâu thuẫn nội bộ tranh giành ngai vàng, quân Xiêm đang ngày đêm trông chờ cơ hội để chen vào can thiệp. Mạc Cửu nhận thấy cần phải dựa vào chúa Nguyễn để tiếp tục củng cố và mở rộng thế lực vùng đất Hà Tiên, nên xin dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn (1708).

Sự kiện đất Hà Tiên được sát nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn, mở ra bước ngoặt cho hành trình mở cõi, chỉ trong vòng nửa thế kỷ mà chúa Nguyễn đã chiếm lĩnh trọn đất đồng bằng sông Cửu Long. Năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long do Nặc Ông Tôn dâng tặng (tức vùng từ Sa Đéc lên đến vùng biên giới đầu nguồn, từ phía Bắc đến phía Nam sông Tiền, sông Hậu hiện nay), lập nên các đơn vị hành chính miền Tây Nam Bộ: đạo Tân Châu, đạo Châu Đốc, đạo Đông Khẩu. Lần lượt 5 phủ phía Tây Hà Tiên là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh thuộc về chúa Nguyễn. Hà Tiên và Tầm Phong Long được sát nhập lãnh thổ Đàng Trong đánh dấu hành trình mở cõi về phía Nam hoàn thành, góp phần ngăn chặn tham vọng “Đông tiến” của người Xiêm, đập tan âm mưu khuynh đảo, cát cứ của đám người Hoa lưu vong, hoạch định biên giới quốc gia của cha ông ta tạo nên sự ổn định an ninh khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVIII.

Nguyễn Hữu Cảnh- vị tướng khai biên xuất sắc, nhà chính trị tài giỏi, nhân hậu, yêu quê hương, đất nước tha thiết. Công đức và nhân cách của ông ấn đọng sâu sắc trong tiềm thức của người dân và mãi mãi được lưu truyền hậu thế. Nhân dân vùng đất mới khai phá, người Việt cũng như người Hoa, Chăm… đều nhớ ơn ông- người đã giúp họ khai hoang- mở đất- an cư- lạc nghiệp và đã lập đền thờ hoặc lập bài vị ông ở nhiều nơi: Nam Vang (Cam- pu- chia), Quảng Bình, Quảng Nam, Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc… Vùng đất mới mở rộng mãi mãi là một phần đất của nước Việt, chủ quyền lãnh thổ của nước Việt Nam được khẳng định. Thế hệ con cháu chúng ta hôm nay và mai sau luôn có ý thức phấn đấu hết sức mình gìn giữ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh./.

Phạm Thị Hồng Thủy


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ae/NguyenHuuCanhTomb.jpg/800px-NguyenHuuCanhTomb.jpg
Lăng mộ Nguyễn Hữu Cảnh ở xã Trường Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

Hansy
26-08-2014, 02:18 AM
- Vụ Án Tra Tấn Hòn Đá

kfeKQTZ49lQ

Hansy
26-08-2014, 12:35 PM
https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWxAL6PdbnctJzBs1unKUdxgG6o96ur ZPGTDwXSWuCYjWYGtzO

73
LÊ DỤ TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1705 - 1728)

Lê Hy Tông mới vừa tạ thế (1705)
Lê Duy Đường kế vị vua cha
Bấy giờ hết nạn can qua
Binh đao tạm lắng quốc gia thái bình

Ơ trấn biên giặc Nùng quấy phá
Tàu Anh Quốc đổ bộ Côn Luân
Đảo quốc cùng với Phúc Phan
Lập đồn trấn thủ đánh tan giặc này

Đai phòng ngự lập ngay Phiên Trấn
Sai Cửu Vân khai thác Vũng cù
Xây thành đắp lũy phòng, lo
Luân phiên canh gác không cho giặc vào

Vua Ai Lao cưới con họ Trịnh
Cuộc hôn nhân để tránh ngoại xâm
Đàng trong dẹp loạn dân Chăm
Lấy tên nước cũ an phần nhân tâm

Chiêu tập dân khai hoang vỡ đất
Mạc Cửu xin thần phục Đàng Trong
Chúa bèn xuống lệnh gia phong
Cử làm trấn thủ coi vùng Hà Tiên

Miền đất biễn ngày thêm đông đúc
Là một vùng sung túc mở mang
Lập nên thương cảng phía Nam
Thuyền buôn các nước thuận đường ghé qua



http://vtvcantho.vn/upload/HT%202(1).jpg
Tượng Mạc Cửu

Hansy
27-08-2014, 01:56 PM
- ĂN KHẾ TRẢ VÀNG

f84V-vmFj40

Hansy
28-08-2014, 12:45 AM
MẠC CỬU
công thần đất Hà Tiên


http://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2012/01/mac-cuu-1.jpg?w=584

Mạc Cửu là Tổng trấn Hà Tiên, thành hoàng lập trấn địa đầu của đất cực Nam Tổ quốc. Mạc Thiên Tích con của Mạc Cữu làm Tổng binh Đại đô đốc thời chúa Nguyễn Phúc Trú. Hai cha con và dòng họ Mạc là những người có công lớn đối với non sông Việt trong sự khai khẩn và trấn giữ miền Tây Nam Bộ.

Chẳng đội trời Thanh Mãn
Lần qua đất Việt bang
Triều đình riêng một góc
Trung hiếu vẹn đôi đường
Trúc thành xây vũ lược
Anh Các cao văn chương”
(Đông Hồ).

Họ Mạc và khu kinh tế biển tây đầu tiên

Đầu thế kỷ 19, khi Trịnh Hoài Đức vào trấn Hà Tiên, thấy cảnh kho, chành, vựa được Mạc Cửu đặt dưới chân núi Phù Dung (nay là núi Đề Liêm), đã thốt lên: “chân núi, tiếng chuông mõ pha trộn tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào của phố thị, chợ búa, thật là cảnh nửa tăng nửa tục”. Đó là thời điểm hơn 100 năm sau ngày Mạc Cửu về đất Hà Tiên.


http://media.zenfs.com/vi-VN/News/SaigonTT/ImageHandler.ashxImageID165449
Biển Tây, một thời là biển đẹp… Ảnh: TLCK

Tổng trấn nhà buôn

“Chúa Hiển Tông (Nguyễn Phước Chu – NV) thấy ông tướng mạo khôi kiệt, lui tới kính cẩn, khen là người trung thành, sắc cho làm thuộc quốc, đặt tên trấn là trấn Hà Tiên, cho ông làm chức tổng binh, ban cho ấn thụ và sai nội thần tiễn chân tới quốc môn” – Đại Nam liệt truyện tiền biên. Người được tả trên là tổng binh Mạc Cửu, vào mùa thu năm 1708, ông cùng thuộc hạ dong thuyền ra Phú Xuân dâng biểu xưng thần và trao đất Hà Tiên cho nhà Nguyễn. Kể từ đó, một vùng đất – biển hoang sơ đã trở thành phố thị, thương cảng lớn bậc nhất xứ Đàng Trong, in đậm dấu chân trong hành trình tiến ra Biển Tây của dân tộc Việt.


http://media.zenfs.com/vi-VN/News/SaigonTT/ImageHandler.ashxImageID165450
Một ngôi chùa xưa ở Hà Tiên qua bưu ảnh. Ảnh: TLCK

Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: “Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông. Vào thời Đại Thanh (1680) nhà Minh mất hẳn. Mạc Cửu (lúc này khoảng 23 tuổi – NV) không khuất phục… mới chừa tóc rồi chạy sang phương Nam, trú tại phủ Nam Vang, nước Cao Miên”. Nhiều nguồn sử khác cho biết, lúc 17 tuổi ông đã bôn ba khắp nơi buôn bán, chỉ năm năm sau đã làm chủ một đội thuyền giao thương với nhiều nước vùng Đông Nam Á và đảo Đài Loan.

Trong vòng hai chục năm lưu lạc, Mạc Cửu khi làm quan cho nước Cao Miên, lúc giao dịch ngoại thương cho vua Cao Miên… tựu trung các việc của ông đều không nằm ngoài hoạt động thương mại, kể cả khi ông chạy sang Xiêm La tị nạn. So với hai vị tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cũng chạy qua Đàng Trong (1679) đầu phục chúa Nguyễn, khai khẩn đất Mỹ Tho và Biên Hoà, Mạc Cửu không xuất thân binh nghiệp. Dưới con mắt một nhà buôn, sau nhiều năm bôn ba các xứ Cao Miên (Nam Vang, Kampot, Oudong) và Xiêm La, đến khoảng năm 1700, ông chọn đất Hà Tiên làm chỗ dừng chân, một nơi có rừng có biển, đồng bằng mênh mông, sản vật dồi dào, bộ – thuỷ tiếp giáp đất Campuchia, Thái Lan ngày nay, có thể mở thương cảng quốc tế.

Khẩn hoang đồng bằng

Xứ Hà Tiên, ngày Mạc Cửu định cư và bắt đầu khai khẩn, rộng lớn hơn bây giờ nhiều: trấn Hà Tiên tây giáp Xiêm La, bắc giáp Cao Miên, tây nam trông ra biển… Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt (Hà Tiên) cho biết, trấn Hà Tiên xưa bao gồm tỉnh Kampong Som (hiện thuộc Campuchia) dài xuống Rạch Giá, Long Xuyên, ven biển từ Lũng Kỳ (khu vực giữa Réam và Sré Cham, phía tây bắc đảo Phú Quốc) kéo dài đến Cà Mau. Trấn Hà Tiên được tạm chia thành hai vùng: phía trên từ Rạch Giá, Long Xuyên đến Bạc Liêu… phần nam sông Hậu có đồng bằng lớn, thuận tiện cấy cày; phía biển từ Phú Quốc chạy đến mũi Cà Mau hợp đánh bắt thuỷ hải sản, đặc biệt là giao thương với các nước xung quanh.


http://media.zenfs.com/vi-VN/News/SaigonTT/ImageHandler.ashxImageID165451
Cầu tạm qua sông Tô Châu thời xưa nay đã được thay bằng cầu bêtông kiên cố. Ảnh: TLCK

Trước khi Mạc Cửu định cư ở Hà Tiên, cùng với người Hoa người Việt đã có mặt rải rác ở vùng này, kể cả Cao Miên và Xiêm La. Họ khai khẩn ruộng nương và đánh bắt thuỷ hải sản, sống ngoài vòng ảnh hưởng của biến động chính trị các quốc gia trên. Với họ, “ông lại chiêu mộ lưu dân Việt Nam ở Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Rạch Giá, Cà Mau lập thành bảy xã thôn” (Gia Định thành thông chí). Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt cho biết thực ra, từ thời còn làm quan bên Cao Miên, Mạc Cửu đã chiêu tập người Việt, nên sau này lưu dân Việt – Hoa theo ông về trấn Hà Tiên rất đông. Kẻ làm ruộng, ông chia vùng cấp đất để khẩn hoang, cung cấp nông cụ thiết yếu (cày, cuốc, dao, rựa… kể cả trâu), phân phối giống (những thứ này Mạc Cửu đi buôn mà có). Ngay cả những tù phạm bị lưu đày nơi khác, ông cũng đưa về cấp đất, nông cụ cho khai hoang, trồng cấy.

Thêm nữa, Mạc Cửu còn buộc những lưu dân Việt giỏi canh tác, khẩn hoang dạy nghề nông cho người Miên (người Miên không giỏi làm nông). Phần đầu ra, ông thu mua toàn bộ lúa gạo, hồ tiêu. Với nghề đánh bắt, các sản vật biển (cá, tôm, đồi mồi, yến sào…) được khuyến khích khai thác bằng chế độ thu mua. Với chính sách bao tiêu đầu vào lẫn đầu ra như vậy, người làm ruộng, kẻ đi biển đã dần định cư khắp nơi trong trấn Hà Tiên. Chính những sản vật nông – ngư nghiệp đó góp phần làm hoạt động thương mại – kinh tế biển của họ Mạc sau này phát triển rực rỡ.

Kinh tế thị trường

Vốn có khả năng và điều kiện kinh tài từ trước khi về lập trấn, Mạc Cửu đã biến Hà Tiên thành một trung tâm thương mại, giải trí bậc nhất của đất Đàng Trong. Vốn có một vị trí đắc địa, nhiều đầu mối hoạt động giao thương, trấn thủ Hà Tiên (khu vực thị xã bây giờ) mặt hướng ra Biển Đông, rất gần với Thái Lan, Malaysia, Indonesia… Cửa biển sâu, rộng gọi là cảng khẩu Hà Tiên. Nối cảng khẩu là một cái hồ lớn (Đông Hồ) và sâu có thể chứa hàng ngàn thuyền bè, là nơi neo đậu lên xuống hàng. Nối với Đông Hồ là sông Giang Thành, con sông đi thẳng qua Campuchia, đến đất Sài Mạt (nơi ngày trước Mạc Cửu làm quan) – một tuyến giao thương quan trọng với Cao Miên ngày ấy. Từ Sài Mạt có đường bộ đi đến thẳng Oudong (kinh đô cũ của Cao Miên). Như vậy, xét về địa lợi, ở Hà Tiên có đủ (cảng biển, sông, sản vật…)


http://media.zenfs.com/vi-VN/News/SaigonTT/ImageHandler.ashxImageID165452
Đôi câu đối trước cổng tam quan Mạc công miếu: “Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng/ Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh” Ảnh: Doãn Khởi

Ngoài việc làm tổng trấn (được quyền thu thuế), họ Mạc còn là một nhà buôn lớn nhất vùng Hà Tiên lúc bấy giờ. Theo nhiều sách sử, ông mua từ Cao Miên ngà voi, sừng tê, đậu khấu (vị thuốc quý), gỗ… đổi lại, ông bán các đồ vật dụng (gốm, sành, sứ), gạo, muối… Đối với các nước giao thương đường biển, hàng bán là cá, tôm khô, gạo, hồ tiêu và những sản vật từ Cao Miên về. Không chỉ bán hàng tại chỗ cho các thương thuyền ngoại quốc (Đông Nam Á và cả châu Âu), họ Mạc thời ấy còn có ba chiếc thuyền lớn được chúa cấp (long bài), đủ sức buôn bán tận Nhật Bản. Chưa hết, Mạc Cửu còn mở thêm sòng bạc kinh doanh. Không sử sách nào chép chi tiết lượng hàng hoá giao thương lúc ấy, chỉ biết vào năm 1718, khi Xiêm La đánh Hà Tiên, phá kho của họ Mạc đốt 200 tấn ngà voi, gạo và các hàng hoá khác, phải mang nhiều tàu lớn vào mới chở đi hết.

Đến thời Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu – từ năm 1736) việc buôn bán còn tấp nập hơn. Cảng Hà Tiên (Đông Hồ) tàu bè đậu kín, ngược xuôi tấp nập. Hai bên bờ, phố thị đông đến nỗi không còn chỗ cho chành vựa. Lúc này họ Mạc được phép đúc tiền riêng (lấy tên là Thái Bình) và trở thành đồng tiền có thể giao dịch quốc tế. Hơn 100 năm sau ngày họ Mạc về khai phá, khi Trịnh Hoài Đức vào trấn Hà Tiên, ông thấy cảnh tượng ở núi Phù Dung (nay là núi Đề Liêm) chợ đầu mối xô bồ, tấp nập kế chùa, cho nên vị đại thần họ Trịnh mới thốt “cảnh nửa tăng nửa tục”. Hay như nhận xét của ông khi nhìn thấy sự sầm uất nơi xưởng đóng thuyền ở chân núi Ngũ Hổ (cách Đông Hồ vài trăm trượng): “Thuyền biển, thuyền sông đi lại như mắc cửi, thật là một nơi đô hội miền biển”. Thời điểm ấy, sau nhiều biến thiên, chiến tranh, ly tán, hoạt động giao thương đã giảm sút rất nhiều so với gần trăm năm trước mà còn như vậy, mới biết vào kỳ cực thịnh, trấn Hà Tiên sầm uất thế nào.


http://media.zenfs.com/vi-VN/News/SaigonTT/ImageHandler.ashxImageID165453
Bên trong khu Mạc Công miếu. Ảnh: Doãn Khởi

Về Hà Tiên bây giờ, những dấu tích của cảnh “đô hội miền biển” không còn. Đầm Đông Hồ, sau một dự án lấn biển làm khu đô thị, nay hiền lành như một con kênh đào. Đứng trên cầu Tô Châu nhìn ra, cảng khẩu nay bị bồi lắng nên nhỏ nhoi và nông sè. Phía tay trái cảng khẩu, Nam phố (một trong “Hà Tiên thập vịnh” của Tao Đàn Chiêu Anh) đang được thay bằng một dự án lấn biển khác, chẳng còn: “Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu/Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi” (Nam phố trừng ba). Lư Khê (rạch Vược) chẳng thấy cá vược rau thuần vì bị Pháp lấp từ giữa thế kỷ trước. Núi Phù Dung xưa, nay chẳng còn nghe “tiếng kệ kinh lẫn ồn ào chợ phố thị”…


http://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2012/01/mac-cuu-2.jpg?w=584
Mộ Mạc Cửu trên núi Bình San

Như lời của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt: “Nhờ có Mạc Cửu, người Việt mới bước qua bờ nam sông Tiền”. Nhiều lần dẹp yên giặc cướp, mấy bận phò chúa lâm nguy, đánh đuổi ngoại bang giữ gìn bờ cõi… võ công họ Mạc khai khẩn đất phương Nam có ai bằng. Có lúc phải chọn cái chết ở xứ người để tận trung báo quốc, họ Mạc xứng với đôi câu đối trước cổng tam quan Mạc công miếu, chân núi Bình San (người đời thường gọi là lăng Mạc công), tương truyền của Trịnh Hoài Đức:

Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng
Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh.

Năm 1975, lần đầu tiên khi đặt chân đến Hà Tiên, đứng trên đỉnh pháo đài nhìn ra biển, nhà thơ Chế Lan Viên rất đỗi ngạc nhiên và cho rằng vùng biển vịnh Thái Lan đẹp không thua gì Hạ Long. Rất ít người biết được rằng, trong hải phận của tỉnh Kiên Giang có đến 105 hòn đảo.

Không chỉ đẹp, đây còn là vùng biển có trữ lượng hải sản lớn nhất nước. Là vùng thềm lục địa nước nông, độ sâu trung bình chỉ 46m, nên biển yên, ít bị ảnh hưởng bởi sóng triều và bão tố khu vực Biển Đông. Về khí hậu, vịnh Thái Lan là vùng biển ấm, nhiệt độ tầng đáy so với Biển Đông vào mùa gió đông bắc thường cao hơn 5 – 8 độ. Đây chính là cái nôi lý tưởng cho tôm cá từ Biển Đông và Thái Bình Dương vào sinh đẻ và trưởng thành. Góp vào sự giàu có trữ lượng hải sản của vùng biển này còn phải kể đến hệ rừng ngập mặn rộng hơn trăm ngàn hecta kéo dài từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên. Người ta đã tổng kết có đến 67% các loài thuỷ sản có giá trị thương mại đánh bắt được trên thế giới phụ thuộc vào rừng ngập mặn cửa sông và ven bờ.

Doãn Khởi


http://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2012/01/mac-cuu-3.jpg?w=584
Mạc Công miếu, khi xưa thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh. Hiện nay là Đền thờ họ Mạc nơi chân núi Bình San.

Nguồn: http://hoangkimvietnam.wordpress.com/2012/01/27/m%E1%BA%A1c-c%E1%BB%ADu-cong-th%E1%BA%A7n-d%E1%BA%A5t-ha-tien/

Hansy
28-08-2014, 11:44 PM
- Thầy cứu trò

ckGI8o94tDs

Hansy
29-08-2014, 11:47 AM
QUYỂN 16

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSr5XRIcJOTOaAHdFXwd6E3aOQLORAWC mKZVDCSsLChOgsPQwV_1A

74
TRỊNH CƯƠNG
(1709 - 1729 )

Năm Kỷ Sửu (1709) theo vâng lệnh chúa
Lấy Trịnh Cương,chắt của Khang vương
Lên ngôi nối dõi tông đường
Nắm quyền phủ chúa đảm đương việc triều

Phép thuế theo Tô Dung Điện học
Luật thuế này Trung quốc đem sang
Ngõ hầu hạn chế thuế quan
Hiện không thích hợp mà đang được dùng

Ở Đàng Trong chúa sai đo đạc (1711)
Diện tích vùng bãi cát Trường Sa
Đồng Hồ Bố Chính đặt ra
Dùng đo viễn độ khoảng xa lộ trình

Xuống lệnh truyền quan viên nội phủ (1711)
Phải du hành đến đó mà xem
Đắp đường tu sửa lẫm kinh
Ngăn ngừa lụt lội dân sinh thế nào

Ba năm sau, tháng hai Giáp Ngọ (1714)
Vua Nặc Yên xứ nọ Đàng Trong
Xin quân cứu viện vì không
Đủ phương chống trả rất mong cứu nàn

Thợ khắc làng Liễu Chàng dâng sách
Dâng cho chúa kiệt tác bấy giờ
Một của Tuệ Tỉnh thiền sư
Viết về y lý dùng cho các thầy

Ông là người Nghĩa Lưu Dạ Cẩm
Được nhà sư ở Cẩm Sơn nuôi
Thi Đình, Hoàng Giáp đổ ngay
Về sau đi sứ bị người giữ luôn

Chúa Trịnh Cương thu hồi ván sách (1718)
Sợ kẻ thù reo rắc nội dung
Chống người phủ chúa và cùng
Tham quan ô lại bên trong chính quyền

Chúa lại truyền chuyển ba phiên cố
Rút hết quyền sáu bộ bên cung
Để vua hư vị ngồi không
Quyền thì phủ chúa gom chung hết rồi

Đổi niên hiệu là đời Thái Bảo (1720)
Đánh thuế đồng, thuế muối, bán buôn
Công ty Đông Ấn tạm ngưng
Triệu hồi toàn bộ khỏi vùng Nghệ An

Chúa Trịnh Cương đề ra nguyên tắc
Thì chi thu đảo ngược kịp thời
Định ra lễ phục hẳn hoi
Hủy ngay điều luật chặt tay bấy giờ (1721)

Chiếu truyền cho kiểm tra dân số (1723)
Những di dân các hộ ven sông
Ba năm kiểm lại cho xong
Quỹ riêng trường học ruộng công để dành

Truyền nộp nhanh bản đồ thủy lợi (1725)
Của mỗi vùng để đợi chỉnh tu
Khơi thông, dẫn thủy , đào hồ
Vét sông tắt nghẽn, đắp bờ lên cao

Để chặn đứng cường hào ác bá
Vạch trần ra bè lũ tham ô
Vua cho yết bảng bây giờ
Ơ nơi công cộng để cho dân bàn



http://tuetinhduongphaplam.org/public/gallery/1_1298121920.jpg
Đại danh y Tuệ Tĩnh

Hansy
30-08-2014, 12:16 AM
- Ông Già Họ Lê

Ox8FE105dsc

Hansy
30-08-2014, 10:44 AM
Đại Danh Y
TUỆ TĨNH


https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWtGCmcVIm54QsK-timnFbeBXTAUPX42kCCIXr8-MZWYSDKHLOPQ

Tuệ Tĩnh chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh, đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh (cũng gọi là Huệ Tĩnh.). Ông xuất thân từ một gia đình bần nông, cha là Nguyên Công Vỹ, me là Hoàng Thị Ngọc (1) ở Nghĩa Lư, huyện Dạ Cẩm, Hồng Châu (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cầm Vũ, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng.

Theo truyền thuyết ở địa phương, ông sinh trưởng dưới triều Trần Dụ Tông ( thế kỷ XIV), lúc lên 6 tuổi, cha mẹ đều mất. Ông được nhà sư chùa Hải Triều ở Yên Trang gần đấy đưa về nuôi cho ăn học (chùa Hải Triều sau gọi là chùa Nghiêm Quang tức chùa Giám ở xã Cẩm Sơn, vì bị đất lở, đã dời đến xã Tân Sơn cùng huyện Cẩm Bình). Đến 10 tuổi, Bá Tĩnh lại được sư cụ chùa Giao Thủy ở Sơn Nam (Nam Đình) đưa về cho ở học với nhà sư chùa Dũng Nhuệ trong huyện. Tại đây, ông được gọi là Tiểu Huệ nên có biệt danh là Huệ Tĩnh. Ông được học văn và học thuốc để giúp việc chữa bệnh ở chùa.

Đến 22 tuổi, ông đi thi hương trúng bảng, nhưng vẫn ở chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Ông tiếp tục việc chữa bệnh giúp dân ở chùa này và phát triển thêm một số cơ sở chữa bệnh ở các chùa lân cận, như chùa Hộ Xá (Nghĩa Xá). Năm 30 tuổi, ông trở về trụ trì chùa Yên Trang. Ông đã tu bổ lại chùa này với một số chùa khác (24 ngôi) ở hạt Sơn Nam và quê hương, huấn luyện y học cho các tăng ni để mở rộng việc chữa bệnh làm phúc.

Năm 45 tuổi, ông thi Ðình, đậu Hoàng giáp. Năm 55 tuổi ông bị bắt đi sứ sang Trung Quốc. Ông được nhà Minh giữ lại làm việc ở Viện Thái y, rồi mất ở bèn ấy, không rõ năm nào.(2)

Sự nghiệp:
Tuệ Tĩnh đã xây dựng nền móng của y học nước nhà với truyền thống chữa bệnh bằng thuốc nam, theo phương châm "Thuốc nam Việt chữa người Nam Việt ". Ông đã gây phong trào trồng thuốc ở gia đình, vườn đền chùa và thu trữ thuốc theo thời vụ để có sẵn thuốc chữa bệnh kịp thời. Truyền thống của Tuệ Tĩnh đã được đời sau thừa kế và phát huy rạng rỡ trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát triến y học dân tộc:

- Hoàng Đôn Hòa, Lương dược hầu dưới triều Lê Thế Tông, quê ở Đa Sĩ (xã Kiến Hưng, tỉnh Hà Tây) đã chữa bệnh rộng rãi và cứu cho nhân dân qua khỏi vụ dịch năm 1533 với thuốc nam trồng kiếm tại địa phương, và chữa cho quân đội triều Lê khỏi dịch sốt rét và thồ tả ở Thái Nguyên năm 1574 với thuốc Tam hoàng hoàn gồm Hoàng nàn, Hoàng lực do Tuệ Tĩnh đã phát hiện ở Nam dược thần hiệu và Hùng hoàng đã được dùng chống khí độc lam chướng ở Thập tam phương gia giảm. Đường lối dưỡng sinh của Tuệ Tĩnh nói ở Bổ âm đơn về phòng bệnh hư lao, đã được Hoàng Đôn Hòa cụ thể bằng thuyết "Thanh tâm tiết dục" với phép "Tịnh công hô hấp" ở sách Hoạt nhân toát yếu.

- Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII) đã thừa kế 496 bài thơ dược tính của Nam dược thần hiệu chép vào sách Lĩnh nam bản thảo, với nhiều phương thuốc nam của Tuệ Tinh chép vào các tập Hành giản trân nhu và Bách gia trân tàng. Đường hướng dưỡng sinh của Tuệ Tỉnh về giữ gìn tinh khí thần để sống lâu cũng được Lãn Ông phụ họa thêm ở thiên Khởi cư của tập "Vệ sinh yếu quyệt ".

- Đặc biệt truyền thống thuốc nam của Tuệ Tĩnh đã để lại tập quán trong nhân dân: trồng một số cây ở vườn đền chùa vừa làm cảnh vừa làm thuốc, và ở gia đình, mọi người ít nhiều đều biết dùng một số cây gia vị, rau quả hay các vị thuốc thường có quanh mình, cùng các phép xông hơ, chườm nóng, xoa bóp... để chữa một số bệnh ban đầu, khi mới xảy ra, rất tiện lợi.

Truyền thống y học của Tuệ Tĩnh đã phục vụ đắc lực sức khỏe nhân dân từ bao đời nay, sự nghiệp trước tác của ông đã giữ một vị tri trọng đại nhất trong lịch sử y học Việt Nam. Vì vậy, nhân dân ta đã lập đền thờ ông: Đền Thánh thuốc nam ở quê hương thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, đền Bia ở thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, miếu Nghè ở chùa Giám, xã Tân Sơn, huyện Cẩm Bình, tinh Hải Hưng. Ngoài ra, ông còn được thờ là Thành hoàng ở xã Yên Lư, huyện Thủy Nguyên, ngoại thành Hải Phòng (có sắc phong là Thượng thượng dẳng phúc thần năm 1572, theo thần phả do Nguyễn .Bính, Đông các đại học sĩ ở Viện Cơ mật triều Lê soạn).

Ngày nay, các di tích nói trên đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử để tưởng nhớ công đức của vị Đại danh y Tuệ Tĩnh đối với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của dân tộc ta.

Trước tác:
Về Phật học, ông đã giải nghĩa bằng chữ nôm (3) sách Thiền tông Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông soạn.

Về Y học ông đã soạn các sách Dược tính chỉ nam và Thập tam phương gia giảm (4) (theo Hải Dương phong vật chí), nhưng phần nguyên tác của Tuệ Tĩnh không còn tròn vẹn do binh hỏa, cụ thể các thư tịch của ta đã bị quân nhà Minh phá hủy hòi đầu thế kỷ XV khi chúng sang xâm chiếm nước ta. Những tác phẩm còn lại đến nay đều do người đời sau biên tập lại với tài liệu thu thập trong nhân dân. Hiện có:

1 Bộ Nam dược thần hiệu, do Hòa thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô (phố Hòe Nhai, dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay) biên tập, bổ sung và in lại năm 1 761, gồm Bản thảo dược tính 499 vị, (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3932 phương thuốc nam ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa gia súc.

2. Nam dược chính bản, do triều Lê Dụ Tông đổi tên là Hồng nghĩa giác tư y thư và in lại nǎm 1717, quyển thượng gồm: Nam dược quốc ngữ phú (danh từ được học 590 vị thuốc nam). Trực giải chỉ nam dược tính phú (220 vị thuốc nam và một thiên Y luận về lý luận cơ bản, âm dương ngũ hành, tạng phủ, kinh mạch (thiên này xuất hiện ở bản in lại năm 1 723: AB. 288)

3- Thập tam phương gia giảm, phụ Bổ âm đơn và Dược tính phú (242 vị.) bằng chữ Hán, gồm 13 cổ phương đông y và phương Bổ âm đơn do tác giả sáng chế cùng phương pháp.


o0o
Chú thích:
1. Theo thần phả đến Yên Lư, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
2. Quốc sử di biên của Sứ quán triều Nguyễn nói Tụê Tĩnh mất ở Giang Nam Trung Quốc.
3. Theo Đào Duy Anh nói ở lời đầu sách dịch Thiền tông khóa hư lục, thì văn vần chữ nôm xưa nhất là mấy bài phú đời Trần. Về văn xuôi thì sách giải nghĩa Thiền tông khóa hư lục của Tuệ Tĩnh cuối thời Trần là xưa nhất.
Gia giảm dùng chữa các loại bệnh ngoại cảm, ôn dịch và nội thương tạp bệnh (Thư viện Hán Nôm VHc 3626).
4. Thập tam phương gia giảm và Bổ âm đơn đã được đời sau diễn dịch ra ca nôm và in ở Hồng Nghĩa giác tư y thư quyền hạ năm 1723 (AB 306).
5. Một bài Nhân thân phú (tương truyền, của Tuệ Tinh), khái quát về lý luận cơ bản người tương ứng với thiên nhiên, cơ năng sinh lý, tạng phủ khí huyết và đường hướng dưỡng sinh chú trọng giữ gìn tinh khí thần để nâng cao tuổi thọ

Nguồn: http://vietsciences.free.fr/vietnam/vanhoa/savants/tuetinh.htm


http://1.bp.blogspot.com/-9qU1R9PuSO0/UShpvl4ogBI/AAAAAAAAAU4/jG9BconU2FY/s1600/images449362_LO_H_u_Tr_c_2.jpg
Đại danh y Tuệ Tĩnh

Hansy
30-08-2014, 11:29 PM
- Trạng Ếch

gV6mpqd_HR0

Hansy
31-08-2014, 04:50 PM
http://saigontoserco.com/files/news/ninh_ch(1).jpg
Tháp Chàm Phan Rang

75
LÊ DUY PHƯỜNG HOÀNG ĐẾ
(1729 - 1732)

Phủ chúa Trịnh muốn thay ngôi đế
Bảo quần thần bàn ép Dụ Tông
Nhường ngôi lui ở trong cung
Duy Phường lên thế để cùng Trịnh Cương

Ơ miền Nam Nguyễn vương mở rộng (1697)
Bình Thuận miền đất trống phía Tây
Phan Rang, Phan Rí thu ngay
Lại thêm Đông Phố lựa ngày phân ra

Phủ Gia Định: Hòa Đa, An Phúc
Xứ Đồng Nai đóng cột chia vùng
Tân Bình lấy xứ Sài Gòn
Dựng dinh Phiên Trấn coi chung vùng này

Năm At Tỵ (1725) chẳng may tạ thế
Nguyễn Phúc Chu được kể lắm con
Cháu chắt nội ngoại đích tôn
Con hơn trăm rưỡi, vợ hơn chục bà


http://tandailuctravel.com/wp-content/uploads/2012/08/CHUONG-TRINH-VE-LE_html_49c45b05.jpg
Tháp Chàm Phan Rang

Hansy
31-08-2014, 06:05 PM
63- TRỊNH NGUYỄN PHÂNTRANH - 4

p_V72seggio

Hansy
01-09-2014, 09:05 AM
- Sự tích đầm Mực

YWE7vlxgu7s

Hansy
02-09-2014, 12:13 AM
Quá trình thu phục Chiêm Thành
(Champa)
dưới thời các Chúa Nguyễn


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/9/9c/Dai_Viet_1100.gif

Sau khi sự nghiệp "Diệt Mạc phù Lê" thành công thì hai họ Trịnh Nguyễn lại quay sang đấu đá lẫn nhau. Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn ở phía Nam. Để khuếch trương lực lượng nhằm có thể "chiến đấu lâu dài" với họ Trịnh hùng mạnh ở Bắc Hà, chúa Nguyễn đã tiến hành "mở rộng" lãnh thổ về phương Nam.

Năm 1611 Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, chiếm đất lập ra phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoà.

Năm 1617 chúa Nguyễn chiếm thêm đất Chiêm Thành, lập ra dinh Trấn Biên.

Năm 1653 Chiêm Vương là Bà Thấm "không biết điều", đem quân quấy nhiễu phủ Phú Yên, bị quân Nguyễn đánh bại. Nhà Nguyễn, nhân cơ hội đó, tiếp tục lấy thêm đất của Chiêm Thành, lập ra phủ Diên Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hoà).

Năm 1693 Chiêm vương Bà Tranh bỏ tiến cống. Nhà Nguyễn không bỏ lỡ cơ hội này. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai tổng binh Nguyễn Phúc Kính đem quân "hỏi tội", bắt được vua Chiêm. Đất đai của Chiêm chiếm được bị đổi thành phủ Thuận Thành, sau đổi lại thành phủ Bình Thuận, lại lấy đất Phan Lý (Phan Tri), Phan Lang (Phan Rang) làm huyện Yên Phúc và huyện Hoà Đa.

Từ đó Chiêm Thành xem như mất hẳn.

Như vậy trong khoảng chưa đến một thế kỷ mà nhà Nguyễn đã thôn tính được hoàn toàn Chiêm Thành, điều mà những triều đại trước tốn bao công sức mà không gặt hái được nhiều thành công. Điều này có nguyên do rất lớn từ bản thân Chiêm Thành. Thực ra quân lực chúa Nguyễn không phải là quá mạnh, nhưng kể từ sau thất bại trước vua Lê Thánh Tông nhà Lê, rồi bị chia thành 3, Chiêm Thành đã ngày càng suy yếu, không thể gượng dậy được và chỉ còn chờ ngày diệt vong.


http://www.canhdongtruyengiao.net/Truyen%20Giao/Cauchuyen%20truyengiao/Lichsu%20Mytho/vietnam1650.JPG

Hansy
02-09-2014, 11:23 PM
- Con Cóc là cậu ông Trời

bbm1mzXDyeg

Hansy
03-09-2014, 01:52 PM
http://www.sachvatranh.com/images_store/20100527200549_3.gif

76
NGUYỄN PHÚC CHU
(1725 - 1738)

Nguyễn Phúc Chu con bà vợ cả
Lên ngôi vương lúc đã ba mươi
Đặt ra quan hệ nước ngoài
Tổ chức thi cử nhân tài lựa ra

Đặt ra khoa dành cho môn toán
Ở Đàng Ngoài có khoảng trăm ba
Lại cho thi tuyển chuyên khoa
Chọn người giỏi võ lập ra môn này

Cấm ngoại quốc đào khai kim loại
Khu mỏ đồng khai thác của ta
Báo cho vua nước Trung Hoa
Phải đem trả lại gọi muốn mà kết thân


https://fbcdn-sphotos-d-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash4/292305_4513028903087_1779628806_n.jpg
Lăng Trường Thanh của chúa Nguyễn Phúc Chu

Hansy
04-09-2014, 12:12 AM
64- TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH - 5

CF_1EuXqD4o

Hansy
04-09-2014, 11:35 AM
Về tấm bia của
Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu
ở chùa Thiên Mụ
Thích Hải Phước[1]
Phan Anh Dũng [2]


http://viethannom.files.wordpress.com/2010/12/image008.jpg?w=300&h=225
Bức hoành phi thủ bút của Nguyễn Phúc Chu, Giáp Ngọ niên (1714), đặt ở Đại điện

Ở khu vực cổng chùa Thiên Mụ, hai bên tháp Phước Duyên có bốn nhà tháp để ba tấm bia lớn và treo quả đại hồng chung của chùa, phía sau tháp Phước Duyên còn một bệ đá để một tấm bia lộ thiên thời Khải Định nữa.

Chếch phía ngoài gần cổng so với tháp Phước Duyên là hai nhà bia hình tứ giác đối diện nhau, đặt hai tấm bia của vua Thiệu Trị, tấm bên phải là “Ngự chế Thiên Mụ tự Phước Duyên Bảo Tháp bi”, tấm bên trái có bài “Thiên Mụ chung thanh” (thần kinh đệ thập tứ cảnh). Gần ngang hàng với tháp Phước Duyên, lui vào trong một chút là hai nhà lục giác, bên trái treo quả Đại Hồng Chung của chùa, còn đối diện bên phải đặt tấm bia cổ nhất do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu lập, ở cuối bia đề: 時 永 盛 十 一 年 歲 次 乙 未 初 冬 之 吉 旦 日 – “Thời Vĩnh Thịnh thập nhất niên, tuế thứ Ất Mùi sơ đông chi cát đán nhật” – Niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11, ngày tốt tháng 10 năm Ất Mùi (tức năm 1715, đời vua Lê Dụ Tông) .

Nội dung tấm bia này nói về việc chúa Nguyễn Phúc Chu trùng kiến lại chùa Thiên Mụ, khoảng đầu thế kỷ 18, bia khá dài nên bài viết này không giới thiệu toàn văn, chỉ xin giới thiệu khái quát lai lịch tấm bia và tác giả bài văn bia:

Minh vương Nguyễn Phúc Chu (阮福淍, 1675 – 1725) là vị chúa Nguyễn thứ sáu của chính quyền Đàng Trong (ở ngôi từ 1691 đến 1725). Dòng chúa Nguyễn vốn gốc ở Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hoá. Nguyễn Phúc Chu là con cả của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Trăn (Nguyễn Phúc Tộc Thế phả ghi là Nguyễn Phúc Thái, chữ Thái có bộ thủy 溙 là chữ hiếm dùng, có lẽ vì vậy bị lầm với chữ Trăn 溱 chăng?). Mẹ ông là Tống Thị ở Tống Sơn, Thanh Hoá, con của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh, bà theo hầu Nghĩa vương từ khi ông chưa lên ngôi, sau khi Phúc Trăn lên ngôi, bà được lập làm cung tần, khi sinh được con trai thì càng được chúa yêu quý. Bà phi của Nghĩa vương vì vị nể nên đã đem Phúc Chu về nuôi. Nguyễn Phúc Chu được nuôi ăn học cẩn thận, văn hay chữ tốt, đủ tài văn võ. Khi nối ngôi chúa mới có 17 tuổi (1691).

Minh vương là một vì chúa hiền và có tài. Khi mới lên ngôi, ông quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má phu dịch, bớt hình ngục. Ông còn cho xây dựng một loạt chùa miếu, mà điển hình là việc trùng kiến chùa Thiên Mụ ghi trong tấm bia đang đề cập. Chúa từng mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am, bản thân chúa cũng ăn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người nghèo. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu bờ cõi phía Bắc yên ổn do chiến tranh Trịnh – Nguyễn đã tạm ngừng 30 năm, còn phía Nam ông mở rộng bờ cõi đất đai xuống tới Nam Bộ ngày nay, đạt được nhiều thành tựu như:

- Đặt phủ Bình Thuận năm Đinh Sửu 1697 gồm các đất Phan Rang, Phan Rí trở về Tây.
- Đặt phủ Gia Định, sai Nguyễn Hữu Kính vào cai trị năm 1698, chính thức xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Nam Bộ .v.v.

Nguyễn Phúc Chu làm rất nhiều thơ, ông có nhiều bài thơ khóc vợ với tình ý tha thiết. Ông là người rất đông con: 146 người con gồm 38 người con trai. Đương thời ông tự xưng là Quốc Chúa, còn gọi là Chúa Minh (Minh Vương), hiệu Thiên Túng Đạo Nhân, về sau nhà Nguyễn truy tôn ông là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế.

Ở đầu bài văn bia có ghi: 國 主 阮 福 週 嗣 洞 上 正 宗 三 十 世, 法 名 興 龍, 號 天 縱 道 人 鼎 建 順 化 天 姥 寺 碑 記 銘 – “Quốc chủ Nguyễn Phúc Chu[3] tự Động Thượng chính tông tam thập thế pháp danh Hưng Long hiệu Thiên Túng Đạo Nhân đỉnh kiến Thuận Hóa Thiên Mụ tự bi kí minh…”

Động Thượng ở đây chính là chỉ dòng Phật giáo Tào Động, theo sách sử thì năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu đã mời vị thiền sư dòng Tào Động người Quảng Đông Trung Quốc là Thạch Liêm, tự Đại Sán Hán Ông tới Huế truyền pháp, dựng giới đàn lớn ở chùa Thiền Lâm với hàng nghìn người dự, có lẽ chúa Phúc Chu đã quy y dòng Tào Động và lấy hiệu Thiên Túng Đạo Nhân chính từ năm này.

Về Tào Động tông (曹洞宗) là một tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc được hai vị Thiền sư sáng lập, là Động Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch. Người ta ghép hai chữ đầu của tên hai vị này và gọi là Tào Động. Mặc dù mục đích tu tập trong hai trường phái Lâm Tế[4] và Tào Động như nhau nhưng phương pháp tu tập cụ thể thì có khác biệt. Tào Động tông chú trọng đến phương pháp Mặc chiếu thiền[5], tức là Chỉ quản đả toạ[6], “chỉ an nhiên Toạ thiền là đủ”, Lâm Tế tông chủ trương phương pháp Khán thoại thiền[7], là quán Công án[8]. Thiền Tào Động được Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17, Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn và phái này hoạt động ở Đàng ngoài (miền Bắc), rất thịnh hành cuối thế kỉ 17 và đầu 18.

Còn ở Đàng Trong người truyền dòng Tào Động được kể là thiền sư Thích Đại Sán, tới Đàng Trong tháng 3 năm 1695 để truyền pháp như đã nói ở trên. Thiền sư trở về Trung Quốc tháng 6 năm 1696, qua cuộc hành trình này thiền sư có viết cuốn “Hải Ngoại Kỷ Sự” thuật lại chuyến đi, đây là một tư liệu lịch sử rất quý về thời đó, được các sử gia Việt Nam khai thác khá nhiều, ví dụ như trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và đã khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

Về dòng Tào Động do Thích Đại Sán truyền ở Huế, hiện chúng tôi chưa nắm được nhiều thông tin, vì Phật Giáo ở Huế khoảng 95% theo Bắc Tông mà trong đó đa số là dòng thiền Lâm Tế. Trong Tập san nghiên cứu phật học, Phật giáo Thừa Thiên Huế số 5-Phật lịch 2546, có bài về chùa Trúc Lâm Đại Thánh của sư Thích Lưu Thanh, cho biết là trong chùa có tôn ảnh của ngài Thạch Liêm Thích Đại Sán, đặt cạnh tường gian bên phải của chính điện, ngoài ra chùa còn giữ một pháp bảo vô cùng trân quý là cái bình bát bằng kim sa của tổ Thạch Liêm Thích Đại Sán.

Tuy nhiên theo nghiên cứu của ông Nguyễn Hữu Vinh[9] thì thiền sư Thích Đại Sán chỉ ghé qua Thuận Hóa thời gian ngắn chưa đến một năm, việc đời sau tôn là tổ khai sơn chùa Thiên Mụ chắc có sự nhầm lẫn, vì chùa do chúa Nguyễn Hoàng dựng cả trăm năm trước khi thiền sư Thích Đại Sán sang Việt Nam. Ông Vinh còn đi xa hơn, cho rằng “thật ra, sư chỉ ghé đến tại chùa Thiên Mụ trong một khoảng thời gian rất ngắn, để dưỡng bệnh trong lúc chờ đợi mùa gió thuận lợi để trở về Quảng Đông. Sư chưa bao giờ trụ trì chùa Thiên Mụ cả”, các sư hiện tu ở chùa cũng xác nhận dòng Tào Động ở chùa Thiên Mụ chỉ có sư Thích Đại Sán. Tuy nhiên theo suy luận của chúng tôi, một khi Quốc Chúa đã bái thiền sư Thích Đại Sán làm thầy, thì việc tôn thiền sư lên làm vị trụ trì ngôi quốc tự Thiên Mụ, dù chỉ hơn nửa năm, cũng không có gì bất hợp lý cả.

Ở cuối tấm bia có bài thơ của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, nội dung không chỉ nói lên tư tưởng sùng Phật, tôn Nho (Cư Nho mộ Thích, Nho Thích đồng ban), mà còn phản ánh lòng tự hào và tình cảm với quê hương đất nước nên chúng tôi xin giới thiệu nguyên văn:

Việt quốc chi nam hề giai thủy giai sơn
Bảo sát chi tráng hề nhật chiếu thiền quan
Tính chi thanh tịnh hề khê hưởng sàn sàn
Quốc chi điện an hề tứ cảnh u nhàn
Vô vi chi hóa hề nho thích đồng ban
Kí tư thắng khái hề nhân quả hồi hoàn
Kiến tiêu lập đích hề thành tồn tà nhàn

越國之南兮, 佳水佳山
寶剎之壯兮, 日照禪關
性之清淨兮, 溪響潺潺
國之奠安兮, 四境幽閒
無為之化兮, 儒釋同班
記茲勝概兮, 因果迴還
建標立的兮, 誠存邪閑


Bản dịch của sư Giới Hương[10] :
Phương Nam nước Việt chừ vững núi đẹp non
Chùa viện hùng tráng chừ tuệ nhật soi cửa
Nội tâm thanh tịnh chừ nước từ bi thấm
Đất nước yên ổn chừ bốn phương êm ấm
Pháp hóa vô vi chừ Phật Nho thuận đạo
Viết lời cảm khái chừ nhân quả vuông tròn
Dựng bia lưu niệm chừ, chánh còn tà tiêu.

Nhân tiện cũng xin nói qua về quả Đại hồng chung rất đẹp, đặt ở nhà tứ giác đối diện bia này, chuông cũng do chúa Nguyễn Phúc Chu đúc, nặng “tam thập nhị bách bát thập ngũ cân” (3285 cân, nếu tính cân ta khoảng 0.605kg thì là 1987kg, tức gần 2 tấn). Trên chuông ghi “Vĩnh Thịnh lục niên tuế thứ Canh Dần tứ nguyệt”, tức tháng 4 năm 1710, trước khi dựng bia đến 5 năm rưỡi. Đúc chuông là một công việc lớn, như vậy có lẽ việc trùng kiến chùa Thiên Mụ có thể đã được làm dần dần qua nhiều năm, chứ không phải dồn vào một năm 1715, điều này có vẻ cũng phù hợp với đánh giá về Quốc Chúa ở phần trên: “bớt chi phí, nhẹ thuế má phu dịch”. Trong Đại điện của chùa còn có bức hoành phi lớn với thủ bút của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, đề 4 chữ “靈 鷲 高 峰- Linh Thứu cao phong”, “甲午年孟夏穀日, 國主天縱道人題 – Giáp Ngọ niên mạnh hạ cốc nhật, Quốc Chủ Thiên Túng Đạo Nhân đề” (tháng 5-1714), từ đó có thể ước đoán là Đại điện hoàn thành trước khi dựng bia (tháng 10-1715) gần một năm rưỡi.Ảnh bản rập tấm bia “Ngự kiến Thiên Mụ tự” của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu:


http://viethannom.files.wordpress.com/2010/12/image002.jpg?w=194&h=300

http://viethannom.files.wordpress.com/2010/12/image004.jpg?w=300&h=225
Nhà lục giác để bia “Ngự kiến Thiên Mụ tự”, nhìn từ cổng

http://viethannom.files.wordpress.com/2010/12/image006.jpg?w=225&h=300
Chính diện tấm bia “Ngự kiến Thiên Mụ tự”

________________________________________
Chú thích:
[1] Chùa Thiên Mụ
[2] Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế
[3] Chú ý chữ Chu trên bia viết bộ xước 週 , phải chăng đây là dạng viết tránh chữ húy tên Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, là chữ Chu có bộ thủy: 淍 ?
[4] Lâm tế tông một trong Ngũ gia của Thiền tông Trung hoa, do Lâm Tế Nghĩa Huyền( ?-886 ) lập nên.
[5] Mặc chiếu thiền: là thiền phong được dẫn xướng bởi Thiền sư Hoằng trí Chánh giác thuộc thiền phái Tào Động đời Tống. Mặc là chỉ cho sự trầm mặc chuyên tâm tọa thiền; Chiếu tức dùng tuệ soi chiếu linh trí tâm tính là bản nguyên thanh tịnh.
[6] Chỉ quản đả tọa là chỉ chuyên tâm tọa thiền không để tâm đến việc khác.
[7] Khán thoại thiền là tông phong của Đại tuệ tông cảo thuộc Lâm Tế tông. Khán chỉ cho cái nhìn; Thoại, chỉ cho Công Án, tức chuyên chú vào một phép tắc Thoại đầu của người xưa, sau thời gian lâu dài chân thực tham cứu, cuối cùng có được sự khai ngộ. (Phật Quang đại từ điển: 看話禪 : 為臨濟宗大慧宗杲之宗風.看, 見之意 ; 話 , 公案之意.即專就一則古人之話頭.歷久 真實參究終於獲得開悟)
[8] Công án vốn có nghĩa là những điều lệ để phân định đúng sai ở trong quan phủ. Thiền tông ghi chép lại hành động, lời nói của các vị cao tăng nhiều đời để chỉ bảo cho những người tọa thiền, sau đó cũng trở thành một loại đối tượng để quán suy trong thiền.
[9] Xem: http://www.quangduc.com/vietnam/67htthachliem.html
[10] “Văn bia chùa Huế”, Thích Giới Hương 1994. Sách lưu hành nội bộ.

Nguồn: http://viethannom.wordpress.com/2010/12/01/v%E1%BB%81-t%E1%BA%A5m-bia-c%E1%BB%A7a-qu%E1%BB%91c-chua-nguy%E1%BB%85n-phuc-chu/

Hansy
05-09-2014, 01:51 PM
- Chàng Ngốc được kiện

ylzyVFpyjA0

Hansy
05-09-2014, 11:58 PM
http://phunutoday.vn/dataimages/201209/original/images761357_Su_that_vu_an_vua_thong_dam_voi_vo_ch ua_phunutoday.vn.jpg

77
TRỊNH GIANG
(1729- 1740 )

Năm Kỷ Dậu (1729) Trịnh Cương tạ thế
Lấy Trịnh Giang lên kế ngôi vương
Một người tư cách tầm thường
Khó lòng trị nước cầm cương giữ gìn

LÊ THUẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1732 - 1735)

Khi Trịnh Giang cầm quyền phủ chúa
Đưa Duy Tường lên kế ngôi vua
Thuần Tông đế hiệu bấy giờ
Long Đức niên kỷ kể từ hôm nay

Trịnh Giang người ưa điều quái dị
Lại là người rất dễ gièm pha
Tính tình nhiễm thói ba hoa
Áo quần diêm dúa xa hoa vào mình

Cũng viết câu, phê bình văn sách
Cũng xây chùa, cung thất xa hoa
An chơi nhiều thói trăng hoa
Cưởng dâm cung nữ của cha chẳng chừa


http://cms.kienthuc.net.vn/static/images/dataimages/201202/original/images835619_1.jpg
Đền Ngọc Sơn ở phía Đông Bắc Hồ Hoàn Kiếm do chúa Trịnh Giang cho xây dựng. Ảnh: vietnam.vn.

Hansy
07-09-2014, 12:39 AM
- Nợ như chúa Chổm

V49-ESH87AY

Hansy
07-09-2014, 05:34 PM
Tìm dấu vết ’trốn báo ác’
của chúa Trịnh Giang?

Ít ai biết rằng, chúa Trịnh Giang ở ngôi được 30 năm thì có tới 20 năm “ẩn” trong cung Thưởng Trì "trốn báo ác" dưới lòng đất. Vậy hầm cung đó ở đâu và bây giờ còn lại chút dấu tích nào không?

Hầm chúa trốn báo ác?

Lật lại những trang sử sách chỉ cho biết, chúa Trịnh Giang vốn là người thích âm nhạc, thơ ca và chơi bời. Vốn có người em thứ ba là Trịnh Doanh, tuổi còn trẻ nhưng có tài kiêm văn võ, nên ông thường phó mặc chuyện chính sự.

Nǎm 1736, chúa Trịnh Giang phong cho Doanh lúc đó mới 17 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, chức Thái úy, tước Ân Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng ba lần, Doanh thay Giang triều kiến trǎm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc. Vì thế, chúa Trịnh Giang rảnh tay vào ǎn uống, chơi bời, tin dùng hoạn quan Hoàng Công Phụ. Giang cho xây dựng rất nhiều cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém: Chùa Hồ Thiên, hành cung Quế Trạo, Từ Dương, phủ đệ ở các làng họ ngoại như làng Tứ Dương, làng My Thử. Việc xây cất, chơi bời của Trịnh Giang làm tốn kém nhiều tiền của nên Giang ra lệnh tăng các thứ thuế khoá và bắt dân lao dịch nặng nề khiến nhân dân rất bất bình.

Trịnh Giang lao vào ǎn chơi, ham mê tửu sắc nên sức khỏe ngày càng kém sút. Ông quan hệ cả với cung nữ của cha là Kỳ Viên họ Đặng (điều cấm kỵ thời phong kiến). Sau Vũ thái phi biết chuyện, bắt ép Đặng thị phải tự tử. Một hôm bất ngờ Trịnh Giang bị sét đánh gần chết. Từ đó Giang mắc bệnh "kinh quý", tâm thần bất định, hoảng hốt và hay sợ hãi. Hoạn quan Hoàng Công Phụ lúc này nói dối rằng: “Đấy là vì dâm dục mà bị ác báo. Muốn không bị hại chỉ có cách là trốn xuống đất”. Nhân đó, các hoạn quan hạ lệnh đào đất, làm hầm cho chúa, gọi là cung Thưởng Trì. Từ đó Trịnh Giang ở hẳn dưới hầm, không hề ra ngoài. Công Phụ càng có điều kiện để lộng quyền.

Cung Thưởng Trì thực tế ở đâu?

Qua thời gian cùng với bom đạn chiến tranh, nhiều công trình thành quách của các vương triều phong kiến ở Thăng Long – Hà Nội bị tàn phá gần hết và dường như chỉ còn lại đống tro tàn. Vì thế, cung Thưởng Trì cũng không còn dấu vết, thậm chí đến cái tên của nó cũng chả mấy ai biết đến.

Hơn thế, dù cố công tra tìm trong rất nhiều tài liệu thì cũng chả thấy có nơi nào nói gì về cung điện dưới lòng đất này. Hậu thế chỉ biết qua mấy dòng đơn sơ: cung Thưởng Trì có tồn tại và ở đâu đó phía Nam hồ Hoàn Kiếm. Vì vậy, tìm vị trí cung Thưởng Trì chả khác nào việc mò kim đáy bể.

Bám vào vị trí cung Thưởng Trì do sử sách ghi lại người viết đem đối chiếu với bản tin Hướng dẫn vào thăm Thủ đô Hà Nội của trang eastseaholidays.eu thì thấy, bờ Nam của hồ Gươm chính là hướng các phố Hàng Khay, Tràng Tiền ngày nay... Như vậy, cung Thưởng Trì của chúa Trịnh Giang chắc cũng quanh khu vực bờ hồ mạn đó?

Cung Thưởng Trì tồn tại ít nhất 20 năm, có kiến trúc phải nói là khá đặc biệt, lại gắn liền với một vị chúa một thời chắc hẳn ít nhiều có giá trị văn hóa và kiến trúc. Hy vọng một ngày, cái tên cung này sẽ được nhắc đến nhiều hơn, cụ thể hơn với vị trí địa lý, kiến trúc rõ ràng... để những người yêu sử Việt có thêm căn cứ để suy ngẫm và tự hào.

Uy Nam Vương Trịnh Giang (1711-1762) là vị chúa Trịnh thứ bảy thời Lê Trung Hưng, ở ngôi từ tháng 10 năm 1729 đến tháng giêng năm 1740. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam.

Trịnh Giang là con trưởng của An Đô Vương Trịnh Cương. Khi ông còn làm thế tử, bảo phó của ông là Nguyễn Công Hãng đã dâng mật sớ nhận xét rằng ông là người ươn hèn, không thể gánh vác được ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý định thay đổi ngôi thế tử nhưng chưa dứt khoát thì đột ngột mất, Trịnh Giang với tư cách thế tử lên nối ngôi chúa.

Chúa Trịnh Giang ở ngôi 30 năm và thọ 51 tuổi.


http://cms.kienthuc.net.vn/static/images/dataimages/201210/original/images1010883_chuatrinh_kienthuc.jpg

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/phong-thuy/tim-dau-vet-tron-bao-ac-cua-chua-trinh-giang-112416.html

Hansy
08-09-2014, 12:07 AM
- Cô gái lấy chồng hoàng tử

Oq6NYEgAXX8

Hansy
09-09-2014, 03:21 AM
http://dulichgiaitri.com.vn/uploads/userfiles/image/dulichtrongnuoc/hatien/2.jpg

78
LÊ Ý TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1753 - 1740)

Thế ngai vua, đưa ngay Duy Thận
Giử ngôi cao cán đáng việc triều
Ý Tông vâng lệnh nghe theo
Là con cháu ngoại được yêu bấy giờ

Thù, giết vua, làm điều quái đản
Sét đánh cho, sau loạn tâm thần
Triều đình quyết định năm Thân (1740)
Trịnh Doanh được chọn thế chân cầm quyền

Ở đàng ngoài nhiều miền thay đổi
Tân Mĩ vùng Đông Phố đất ta
Từ Châu Định Viễn lập ra (1732)
Long Hồ Dinh trấn hiện là Cửu Long

Ở Đàng Trong quốc vương Chân Lạp
Cất quân vào đàn áp Hòa Đa
Vĩnh Phúc chúa phái đem ra
Quân binh đánh chúng, đuổi xa khỏi thành

Ở Đàng Ngoài tiến hành soạn quyển
Sách "Quốc triều hội điển" vừa xong (1731)
Tức Uông tạo sĩ bách cung
Làm pho binh pháp để dùng trong quân

Sai nha quan tìm mua sách cũ (1731)
Sửa lại kho Tích Cổ Tàng Thơ
Ngũ Kinh in mới dâng vua
Tứ Thư Chư Sử dạy cho học trò (1734)

Lại y theo đồng hồ ngoại quốc (1733)
Nguyễn Văn Tư bắt chước làm ra
Tự cung trong nước để mà
Đặt nơi dinh trấn dân ta coi giờ

Chúa Nguyễn cho con trai Mạc Cửu (1736)
Làm Đô Đốc trấn giữ Hà Tiên
Một tay nổi tiếng chiêu hiền
Lập Chiêu Anh Các giao duyên tao đàn

Trịnh Giang bệnh :tâm thần phân liệt
Làm dân lành bao xiết khổ đau
Nhiều nơi lắm kẻ cầm đầu
Dấy lên nổi loạn chia nhau cát quyền



http://static.panoramio.com/photos/large/93682985.jpg
Mộ Mạc Thiên Tứ trên núi Bình San, Hà Tiên

Hansy
10-09-2014, 12:07 AM
- Thần giữ cửa

xypUYhDntuU

Hansy
10-09-2014, 10:57 AM
http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/luoc_do_cac_cuoc_khoi_nghia_nong_dan_o_dang_ngoai_ the_ki_xviii_500.jpg
Các cuộc nổi dậy ở Đàng Ngoài


79
TRỊNH DOANH
(1740 - 1767)

Chúa Trịnh Giang trao quyền nhiếp chính
Cho Trịnh Doanh quyết định mọi điều
Đầu tiên từ bọn quan liêu
Giết ngay Công Phụ và nhiều kẻ gian

Truyền quan quân lên đường dẹp loạn
Tuyển ưu binh lực lưỡng dễ dùng
Trưng thu đến cả hồng chung
Để đúc binh khí kiếm cung tàu thuyền (1740)

LÊ HIỄN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1740 - 1786)

Lê Duy Niên được nhường ngôi đế
Vì Trịnh Doanh muốn thế Ý Tông
Vời ngay thái tử đông cung
Trở về nhận lảnh trung hưng mối giềng

Dân Đàng Ngoài triền miên thiếu đói (1730,1735,1740)
Ruộng bỏ hoang đồng cỏ xác xơ
Thiên tai, dịch bệnh bấy giờ
Nhiều năm hạn lụt mất trơ mùa màng

Số giáo dân bao gồm cả nước (1737)
Đến bây giờ kiểm được xong xuôi
Hai trăm năm chục ngàn người
Nhà thờ giáo sứ nhiều nơi cát quyền

Cả hai miền đều cho cấm đạo (1737)
Sợ gây mầm khuynh đảo trong dân
Truyền cho giáo sĩ ngoại nhân
Phải ra khỏi nước không cần lệnh vua

Nhà sư tên Dương Hưng khởi nghĩa
Ở Tam Đảo và giữ một vùng
Lại thêm tù trưởng Quách Công
Chiếm vùng Lạc Thổ vẫy vùng một phương

Người nhà Lê thân vương tôn thất
Họp lại cùng Duy Mật hưng binh (1738)
Mong làm đảo ngược tình hình
Tấn công đốt phá kinh thành tan hoang

Mưu bị lộ tìm đường chốn thoát
Vì nghĩa binh khinh thất coi thường
Nên nhiều người đã chết oan
Bị quân họ Trịnh dẹp tan tức thì

Lê Duy Mật chạy về Thanh Hóa (1740)
Cùng nông dân đã hóa vùng này
Thành nơi dựng trại , tuyển nguời
Dân binh gia nhập mỗi ngày một đông

Khi tiến công khi vây Phúc Lộc
Vượt sông Đà đánh thốc sông Thao
Lôi Dương ngấp nghé tiến vào
Ngọc Lâu còn dấu chiến hào thân vương

Thành Trình Quan ba mươi năm ấy
Nét oai hùng còn thấy về sau
Bị quân phản bội bắc cầu
Ong đành tự vẫn tránh vào tay quân (1770)

Ơ Đàng Ngoài nhân dân chống lại
Bọn kiêu binh và lũ tham tàn (1741)
Công Chất cát cứ Sơn Nam (1739)
Tuyển, Cừ, Trác, Oánh chiếm đàng Hải Dương (1741)

Ơ Bắc Phương dư đồ nhà Mạc (1744)
Chiếm Cao Bằng, Hưng Hóa, Tuyên, Quang
Ngân Gia lại có Đình Dung (1740)
Tế Bồng thủ lĩnh chiếm vùng Sơn Tây

Nguyễn Hữu Cầu cho xây dinh trại (1742)
Kiểm soát miền duyên hải Đồ Sơn
Ngũ Phúc tướng Trịnh bị dồn (1744)
Bị quân vây hãm cuống cuồng lo âu

Nguyễn Danh Phương cầm đầu lực lượng (1744)
Mười vạn quân cả tướng và binh
Lấy vùng Thanh Lãng xây thành
Cuối cùng bị bắt tử hình nơi đây

Nguyễn Phúc Chu trên ngai phủ chúa
Ơ Đàng Trong hơn được mười năm
Giữa năm Mậu Ngo (1738) thì băng
Khoát lên nối nghiệp đăng quan lúc này


http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/the_ky_18_picture1_500.jpg

Hansy
10-09-2014, 10:24 PM
65- TRỊNH-NGUYỄN PHÂN TRANH - 5
(Tiếp theo)

yqN8a_QB630

Hansy
11-09-2014, 06:22 PM
- Bợm già mắc bẫy

L9uSHUvHLhs

Hansy
12-09-2014, 03:58 AM
QUẬN HE NGUYỄN HỮU CẦU
VỚI HỎA NGƯU TRẬN ĐỘC ĐÁO

Nguyễn Hữu Cầu (?–1751) xuất thân trong gia đình nông dân nghèo huyện ở huyện Thanh Hà, Hải Dương. Ông có tài cả văn lẫn võ, lại bơi lội rất giỏi nên còn được gọi là quận He (He là tên một loài cá biển). Khi tập hợp nông dân khởi nghĩa chống tập đoàn Lê – Trịnh, ông đã lấy vùng Đồ Sơn làm căn cứ từ năm 1741 – 1751. Nghĩa quân có lúc đông tới hàng vạn người, chúa Trịnh nhiều lần cử quân đến đánh dẹp nhưng đều bị quân Nguyễn Hữu Cầu đánh cho tan tác.


http://vietnamhs.files.wordpress.com/2013/07/1002071_174599552716749_1439242574_n.jpg?w=500

Tuy vậy, những nỗ lực của chúa Trịnh cũng đạt được thành quả nhất định. Trong một trận đánh không không cân sức, nghĩa quân đã bị bao vây bốn phía, gần như không còn đường thoát. Quận Trịnh tin chắc sẽ bắt được Nguyễn Hữu Cầu nên đã bắc loa dụ hàng nghĩa quân.

Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Hữu Cầu đã huy động toàn bộ số trâu của nông dân trong vùng để thực hiện Hỏa ngưu trận. Ông cho buộc những mũi lao nhọn vào sừng và hai bên sườn từng con trâu. Sau đó, đuôi trâu được buộc giẻ tẩm nhựa thông và châm lửa đốt đồng loạt.

Đàn “trâu lửa” điên cuồng vì nóng lao thẳng vào nơi tợp hợp của quân Trịnh, húc và dẫm đạp dữ dội làm đội quân này rối loạn. Nhân đó, Nguyễn Hữu Cầu tung quân chủ lực ra đánh khiến quân Trịnh tan vỡ…

Sách Binh Thư Yếu Lược viết về chiến thuật này như sau: “Dùng con trâu già bỏ đi, buộc dao sắc vào sừng, hai bên mình cặp tre sát vào chân cho không thể quay được, trên lưng đội một ống pháo sắt lớn chứa một đấu thuốc, thuốc để quanh co ở trong pháo; pháo chứa những thuốc liệt hỏa, thần sa, thần hỏa. Phàm khi quân giặc rất nhiều quân ta rất ít, dùng trâu ấy xông vào người ngựa gặp phải tức thì tan nát. Khi xông vào trận giặc thì lửa phát pháo nổ, thế như sấm động, ầm một tiếng không kịp bịt tai. Dù khó nhọc mấy ở trong mấy trùng vây của giặc cũng phá tan được”.

Nguồn: http://vietnamhs.wordpress.com/2013/07/09/quan-he-nguyen-huu-cau-voi-hoa-nguu-tran-doc-dao/

Hansy
12-09-2014, 08:55 PM
- Mụ Lường

vHVzqzC_CXI

Hansy
13-09-2014, 12:43 AM
http://www.vhttdlnguyendu.edu.vn/Uploaded/Nguyen%20Du.gif


80
NGUYỄN PHÚC KHOÁT
(1738 - 1756)

Nguyễn Phúc Khoát xuống ngay chiếu chỉ
Lập lễ đài ở Huế đăng quang
Sai người đúc ấn Quốc Vương
Đặt ra triều phục, kỷ cương khi chầu

Xây kinh đô, điền đài, cung điện
Gác Dao Trì nội viện Triều Dương
Thuyền rồng đậu ở sông Hương
Cái quan đắp rộng dể dàng cho dân

Ơ trấn Biên có quân tạo phản (1747)
Chúa Nguyễn sai dẹp loạn thật nhanh
Được tin giặc cỏ Long Xuyên
Vua sai cai đội đem thuyền đi ngay

Lại xuống chiếu chọn ngày đúc súng (1747)
Làm thêm tiền kẽm cứng lưu thông
Cộng chung với cả tiền đồng
Định ra luật lệ tiêu dùng dễ phân

Năm Giáp Tuất (1754) đem quân tiến đánh
Đuổi Chân lạp đến tận Nam Vang
Nặc Nguyên dâng biểu đầu hàng (1755)
Từ nay thần phục xin làm phiên vương

Dưới thời này văn chương kiệt xuất
Nhiều thi thơ trước thuật tài tình
Nguyễn Kiều một thuở lưu danh
Sử Hoa Tùng Vịnh để dành người xem

Chinh phụ ngâm chuyện tình cay đắng
Bảng hán văn của Đặng Trần Côn
Bà Đoàn diễn lại thơ Nôm
Văn chương man mác nỗi buồn phu thê

Là tác phẩm thiên về nghệ thuật
Một áng thơ tuyệt tác bấy giờ
Nghe qua não nuột tựa hồ
Xót xa vạn dặm mờ mờ đau thương



http://img.kutublog.com/wp-content/uploads/2013/06/khong-quen-nguyen-du-truyen-cuoi-hoc-duong.jpg
Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du

Hansy
13-09-2014, 01:55 PM
- Vụ án tên trộm mù
- vụ án buồng chuối

lCG78-k737c

Hansy
14-09-2014, 07:21 AM
ĐI TÌM NƠI AN TÁNG
CỦA THI HÀO NGUYỄN DU
TẠI HUẾ


http://www.vhttdlnguyendu.edu.vn/Uploaded/Nguyen%20Du.gif

Năm 1806, vua Gia Long cho mời Nguyễn Du ra làm quan ở kinh đô, phong tước Du Đức Hầu, giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình; tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính sứ đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Nguyễn Du mất ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch tức ngày 16-9-1820 trong một cơn đại dịch, hưởng dương 56 tuổi.

Khi ông mất có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn Thảng, con Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân bên cạnh. Ông được an táng ở cánh đồng Bầu Đá, xã An Ninh, Phú Xuân.

Cháu của ông là Nguyễn Hành bấy giờ ở Bắc Thành được tin ông mất, có làm thơ khóc chú và nói lên cái chết nhanh chóng bi thảm đến với ông :
Dịch lệ hà năng tốc công tử?
Tam thu xuân lạc thử thành trung…
(Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế? Ba năm lưu lạc ở thành này).


http://thuvienhoasen.org/images/file/BGIX0JtG0QgBAO9Y/nguyendu-ditimnoiantangcuathihao-1.jpg
Bảo tàng Nguyễn Du, Hà Tĩnh

Đến mùa hè năm Giáp Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên một bãi cát hẻo lánh. Con cháu có dựng một ngôi nhà thờ ở vườn cũ. Năm 1940, hội Khai Trí Tiến Đức có quyên tiền xây một ngôi nhà thờ gạch, lợp ngói, mặt trước có gạch kẻ hoa, chính giữa đề 4 chữ “Nhân kiệt địa linh”.

Hai cột hai bên có câu đối Nôm:
Khúc đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài tình chung đất nước/
Chốn ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí nặng non sông.
Tháng 7 năm 1954, chiến tranh phá hủy ngôi nhà thờ này.

Như vậy Nguyễn Du được an táng lần đầu vào năm 1820 ở cánh đồng Bầu Đá, An Ninh, Phú Xuân. Cải táng lần thứ nhất năm 1824 về xứ Đồng Mát, cải táng lần thứ hai năm 1928 về xóm Đồng trên một bãi cát hẻo lánh ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Có lý do gì mà gia đình và các hậu duệ của ông phải cải táng ông nhiều lần như vậy hay đó là di chúc của người thiên cổ? Sau mỗi lần cải táng có xảy ra biến cố gì không, đặc biệt là lần cải táng sau cùng vào năm 1928?

Một trăm lẻ bốn năm sau người ta lại cải táng lần thứ hai. Ai là người đã đưa ra ý kiến đó và các người có trách nhiệm có nghiên cứu kỹ về ngôi mộ đầu tiên của ông ở cánh đồng Bầu Đá hay chưa? Phải giải thích cho giòng họ như thế nào để thuyết phục mọi người chấp nhận hay là chỉ vướng mắc một vấn đề tế nhị.

Huyện Nghi Xuân là một vùng đất có nhiều nhân tài khoa bảng, đặc biệt là quê hương của ông tổ ngành phong thủy địa lý Việt Nam: Tả Ao.

http://thuvienhoasen.org/images/file/YyUc0JtG0QgBAaFN/nguyendu-ditimnoiantangcuathihao-2-jpg.gif
Mộ thi hào Nguyễn Du tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Vậy việc cải táng này có điều gì bí ẩn không?
Trước khi khảo sát và xác định trên thực địa mộ táng của Nguyễn Du tại Huế, chúng tôi phải tìm hiểu thời gian ông sống hơn 12 năm cuối đời từ 1806-1820 ở Phú Xuân.
Chúng tôi phải sưu tra lại các vấn đề địa lý, hình thể và phát triển của vùng đất Thuận Hóa-Phú Xuân đồng thời tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng đồ họa trên máy tính, phải đối chiếu thực tế trên mặt đất với các bức không ảnh chụp từ vệ tinh của các chương trình Google Map Satellite, World Map, Earth… với nhiều độ phóng đại để có thể hình dung vùng đất này, nhất là vùng thượng nguồn của các con sông (Bạch Yến (Catu), sông Lấp, vùng An Đô, La Chữ, Kim Long, Kẽ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều, Giáp Hạ, Linh Mụ, Chợ Thông…và đặc biệt hình thể vùng núi đá và các khoảng ruộng ở An Ninh thượng, hạ và cánh đồng Bầu Đá nơi an táng lần đầu tiên của Nguyễn Du.

Bầu Đá là một cánh đồng nằm ở phía Tây Bắc thành phố Huế (nay thuộc Lựu Bảo-An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên). Cánh đồng Bầu Đá là một thung lũng, một vùng lòng chảo, bao quanh 3 mặt là rú đá, riêng phía Tây hở chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dãy Trường Sơn.

Bầu Đá cách kinh thành Huế về phía Tây khoảng 8km đường chim bay, sau lưng đồi Hà Khê - chùa Linh Mụ, qua bên kia sông Bạch Yến có một vùng núi đá thấp thường gọi là Rú Đá. Quần thể rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Có một đoạn các ngọn rú Đá này chạy liên kết nhau tạo thành ¾ một vòng tròn.

Rú Đá còn gọi là rú Bầu Đá, rú Kèo Đá, rú Vi, rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 500m. Thung lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng Bầu Đá, nay còn có tên là Bầu Sắn (Bàu Sắn) với đường kính khoảng gần 1km, trên cánh đồng nổi lên một cái cồn nhỏ.

Trên đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau. Có những ngôi mộ rất cổ, có cả nghĩa trang của các nhà thờ Thiên Chúa giáo, duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn. Nếu đi từ cầu Xước Dũ lên đến đỉnh rú Bầu Đá khoảng 3km.

Nơi an táng Nguyễn Du trên cánh đồng Bầu Đá nay không còn một dấu vết nào. Có chăng chỉ còn một ruộng lúa xanh mướt trải dài, một luống bắp đang trổ cờ, một tiếng gió rít qua kè đá… “Dấu giày từng bước in rêu rành rành”. Ở giữa cánh đồng này hiện nay chỉ có một ngôi mộ độc nhất của vị thượng thư họ Hoàng.

Vị trí ngôi mộ của ông thượng thư họ Hoàng như sau: Phía chính Tây là núi An Đô đồ sộ, phía sau dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ, có một mạch nước phía trước. Theo thuật phong thủy gọi là “tích phúc tụ thủy” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung quanh mộ có rú Đá thấp bao bọc, đó là thế đất tốt, có núi làm bình phong, có mạch nước minh đường thủy tụ… Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào cũng mơ tưởng như trong lý thuyết.

Thượng thư Hoàng Hữu Thường người xã Quảng Tế, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1873 đỗ Giải Nguyên, năm 1875 đỗ Tiến sĩ, năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đình Túc thương thuyết với quân Pháp. Thời vua Đồng Khánh, ông làm Thượng thư bộ Công, Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Ông mất vào tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bầu Đá.

Đã là Thượng thư bộ Công, làm quan trải qua 6 đời vua (Tự Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Đồng Khánh) là người đứng đầu cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, miếu mạo… hẳn ông là người học vấn uyên thâm và thông thạo về thuật phong thủy địa lý hơn ai hết. Vậy thì khi chọn cho mình một nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp với sở học, phải nghĩ tới tiền đồ của con cháu, dòng họ và ước mơ của mình.


http://thuvienhoasen.org/images/file/p4ce0JtG0QgBAbMW/nguyendu-ditimnoiantangcuathihao-3-jpg.gif
Mộ Thượng thư Hoàng Hữu Thường tại cánh đồng Bầu Đá

Nói về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư bộ Công và cánh đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh Thượng, về sau này và trước đó còn có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mã. Như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần… các bạn có thể tìm hiểu thêm nơi bà Hồ Thị Sâm 75 tuổi là người đang giữ mộ của Thượng thư họ Hoàng.

Trước khi đi tìm nơi chôn cất đầu tiên của Nguyễn Du chúng tôi có nghiên cứu thêm về thời gian Nguyễn Du sống tại Huế như địa chỉ nhà của ông ở đâu? Ông bị bệnh gì mà chết, căn bệnh đó có ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường hay không? Dự đoán khoảng cách từ nhà ở đến chỗ an táng bao xa? Qua các sử liệu có độ tin cậy cao nhất ví dụ như địa chỉ nhà ở của Nguyễn Du qua bài thơ Ngẫu Hứng là ở xóm dệt vải ở vương đảo Kim Long, bệnh án tử vong của Nguyễn Du qua bài điếu văn của Nguyễn Khản, cháu gọi ông bằng chú ruột, tình trạng lây lan của căn bệnh ở thời điểm đó trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu và bài Khóc Nguyễn Du của Xuân Hương…

Về nguyên tắc khi chọn một địa huyệt để an táng:
Phải chọn được cảnh đẹp, phải là nơi cao ráo, hậu chẫm phải được che chắn, trước mặt phải có mạch nước có bình phong, tả hữu phải được bảo vệ…
Nếu không có được điều kiện ấy thì phải xem tuổi tác, ngày giờ chết, nhân thân của người chết hay người thân của người đó…

Mộ táng của quan Đại thần Thượng thư bộ Công đáp ứng với các điều kiện căn bản đó, đó là địa huyệt thuộc loại Lôi trạch quy muội (Gái về nhà chồng - nghĩa là mang theo của cải tiền bạc, mang theo sung mãn con cái làm ăn phát tài, danh vọng…), Tọa đoài hướng chấn (Đầu người chết về hướng Tây chân gác trên rú thấp về hướng Đông), Triều sơn (núi quy tụ về một chỗ).

Quan sát mộ táng của vị Thượng thư bộ Công mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lý và phong thủy khi chọn địa huyệt là chỗ dung thân ngàn năm.
Ngôi mộ của ông, một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào cũng mơ tưởng như trong lý thuyết.

Để xác định tọa độ nơi người ta chôn cất nhà thi sĩ nhất mực tài hoa này, chúng tôi đã:

- Khảo sát thực địa, xác định vùng xã An Ninh, vùng cánh đồng Bầu Đá và tọa độ ngôi địa huyệt.
- Riêng về tọa độ ngôi địa huyệt là vấn đề thuộc chuyên môn sâu hơi khó khăn.
- Chúng tôi cho mời 10 nhà phong thủy địa lý đến hiện trường ở những thời điểm khác nhau, họ mang theo la bàn và dụng cụ đo đạc chuyên môn để chỉ trả lời cho chúng tôi một câu hỏi duy nhất: Trên cánh đồng nhỏ bé này, chỗ nào là địa huyệt lý tưởng? Chín trên mười các nhà phong thủy đều có cùng một đáp số: 16027’31.41" vĩ Bắc, 107032’8.66" kinh Đông.

Chúng tôi kiểm tra lại trên bản đồ không ảnh của Google Earth, tọa độ đó trùng hợp với mộ của quan Đại thần Thượng thư bộ Công Hoàng Hữu Thường.

Có thể giải thích một cách đơn giản là 67 năm sau khi Nguyễn Ngũ cải táng cha mình thì tọa độ đó chỉ còn là một bãi đất trống và quan Đại thần Thượng thư bộ Công là người đã nhìn thấy long mạch ở đó.

HỒ ĐẮC DUY

Nguồn: http://thuvienhoasen.org/a8359/di-tim-noi-an-tang-cua-thi-hao-nguyen-du-tai-hue

Hansy
14-09-2014, 09:00 PM
- SỢI BẤC TÌM THỦ PHẠM

mOTGOb6dVEg

Hansy
15-09-2014, 06:07 AM
http://cms.kienthuc.net.vn/uploaded/baogiay/2013_12_16/tuong%20chua%20trinh%20sam_oneg.jpg

81
TRỊNH SÂM
(1767 - 1782)

Ở Đàng Ngoài Trịnh Sâm nguyên soái
Được tiến phong lên nối ngôi vương
Đổi ngay triều nội kỷ cương
Không theo pháp cũ triều đường khi xưa

Chúa Trịnh Sâm thay vua quyết đoán
Đã một lần làm tướng xuất quân
Đã từng chiếm lấy Phú Xuân
Đuổi quân chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Nam

Lê Quí Đôn một người tài lực (1752)
Để lại đời Tiểu Lục Kiến văn
Lê Triều Thông Sử trăm trang
Một nhà bác học thuộc hàng quán quân

Đất Hải Dương có Lê Hữu Trác (1724)
Là một người uyên bác y khoa
Y Tông Tâm Lĩnh viết ra
Vệ sinh yêu quyết thật là ích dân

Làng Đan Loan có Phạm Đình Hổ (1768)
Chuyên tâm vào nghiên cứu điễn văn
Vũ Trung tùy bút, Tang Thương
An Nam Chí Lược trăm trang để đời

Từ Tân Dậu (1741) kéo dài cho tới
Năm Đinh Hợi (1767) cả ở hai miền
Có nhiều sự kiện khó quên
Khoát mất, Thuần thế, Trịnh Sâm đang ngoài


http://img.phapluatxahoi.vn/Images/Uploaded/Share/2012/10/17/images1019889huekienthuc.jpg

Hansy
16-09-2014, 12:23 AM
- Những em bé thông minh

O4hcH_bwOpc

Hansy
16-09-2014, 12:56 PM
Đặng Thị Huệ
“dắt mũi” Trịnh Sâm
nhờ bí thuật phòng the?

Dẫu nhan sắc không quá nổi bật, nhưng nhờ ngón nghề quyến rũ và bí thuật giường chiếu vô song, Đặng Thị Huệ vẫn khiến chúa Trịnh kiêu hùng phải gục ngã.

Sắc đẹp không bằng “bí thuật” giường chiếu

Trịnh Sâm là một vị chúa có nhiều cung tần vào loại nhất trong các chúa Trịnh . Theo cuốn Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam thống kê thì ông này có tới 400 cung tần, mỹ nữ chuyên lo việc hầu hạ.

Mặc dù sức vóc con người chỉ có hạn, chẳng thể nào ban phát ái tình cho hết các cung tần nhưng lòng tham thì vô đáy. Huống chi lại có quyền lớn trong tay, được hưởng đặc lợi nên sau khi dẹp hết phản loạn trong nước, Trịnh Sâm r a sức tuyển lựa gái đẹp đưa vào phủ hầu hạ mình.


http://img2.blog.zdn.vn/40940844.jpg
Đặng Thị Huệ và Trịnh Sâm

Trong số hàng trăm mỹ nhân ấy, Tuyên phi Đặng Thị Huệ là người được Trịnh Sâm sủng ái nhất. Từ khi có Huệ, Sâm không còn quan tâm đến người đẹp nào nữa mặc dù Huệ không có tài năng hay nhan sắc đặc biệt gì.

Đặng Thị Huệ xuất thân bình dân, quê ở làng Phù Đổng – Tiên Du – Kinh Bắc (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Huệ mắt phượng mày ngài, thắt đáy lưng ong, nổi tiếng nhan sắc một vùng. Tuy nhiên, giữa một rừng mỹ nhân trong phủ chúa thì nhan sắc của Huệ cũng chưa thấm vào đâu. Bởi thế, khi mới được tuyển vào cung, Đặng Thị Huệ chỉ là một nữ tì làm các việc hầu hạ khổ nhọc mà không được ai để ý đến.

Lần đầu tiên Huệ gặp chúa Trịnh Sâm là lần được Tiệp dư Trần Thị Vinh sai bưng một khay hoa đến chỗ chúa ngồi. Để tỏ ra độc đáo, Huệ đã lựa chọn toàn những bông hoa huệ vừa to vừa đẹp. Trịnh Sâm trông thấy hay hay nên đẹp lòng rồi vời đến để vui vầy. Với các cung nữ khác thì chỉ vài lần là chán nhưng riêng Đặng Thị Huệ thì chẳng hiểu sao chỉ một lần ấy, chúa Trịnh kiêu hùng đã gục ngã, mãi mãi thuộc về thị.

Sau này người ta nói rằng tuy Huệ nhan sắc không bằng ai, cũng chẳng tài giỏi hát múa nhưng những kỹ thuật trong chốn phòng the cùng những ngón nghề quyến rũ thì Huệ lại tỏ ra rất sành sỏi. Bởi thế mà chúa Trịnh Sâm chỉ sau một lần chung chăn gối đã ngay lập tức trở thành tên “nô lệ tình yêu” của Thị.

Chúa cũng bị “dắt mũi”

Từ khi bị Đặng Thị Huệ “chinh phục”, Trịnh Sâm thay đổi hoàn toàn. Riêng đối với Huệ, không điều gì là không nghe theo mà khi có việc còn tìm Huệ bàn bạc, coi trọng như ý kiến các khanh tướng cấp cao.

Lệ cũ là chúa ít khi ở chung với phi tần. Mỗi tối việc hầu ngủ cho chúa sẽ do bọn thái giám lo. Chúa chấm người nào thì thái giám đi gọi người đó vào hầu. Thế nhưng, với Đặng Thị Huệ, Trịnh Sâm cho ở cùng một nhà, ăn cùng một mâm như một cặp vợ chồng thường dân. Điều này là một ngoại lệ rất ít thấy trong cung đình. Không những thế, xe ngựa, đồ dùng của Huệ cũng đều sắm sửa hệt như đồ dùng của chúa.


http://img2.blog.zdn.vn/40940847.jpg
Đặng Thị Huệ và Trịnh Sâm

Về chức tước, chẳng bao lâu, Đặng Thị Huệ từ một nữ tì thăng lên Tư dung rồi khi sinh được con trai thì được phong làm Tuyên phi và chính thức trở thành chánh cung của phủ chúa.

Trịnh Sâm tàn nhẫn, mưu mô là thế nhưng trước Đặng Thị Huệ thì dường như đã hoàn toàn bị “dắt mũi”, đến mức Thị Huệ dám cầm viên ngọc mà chúa rất quý ném thẳng xuống đất. Chuyện kể rằng khi vào Quảng Nam đánh quân Nguyễn, Trịnh Sâm có bắt được một viên ngọc dạ quang. Chúa quý viên ngọc lắm nên thường cài nó trên khăn. Một lần Thị Huệ đưa tay cầm viên ngọc mân mê. Chúa mới dặn: “Nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc sây sát”.

Chẳng dè, chúa mới nói thế, Thị Huệ cầm viên ngọc ném ngay xuống đất rồi khóc lóc bảo: “Quý gì hòn ngọc ấy, bất quá vào Quảng Nam lấy ra hòn ngọc khác đền chúa chứ gì. Sao lại nỡ trọng của khinh người thế”. Nói rồi Thị bỏ về phòng và mấy ngày liền tránh mặt chúa. Sau vụ này, Trịnh Sâm phải mất bao công sức dỗ dành mới làm nàng vui lòng và chịu làm lành với mình.

Thậm chí, để chiều lòng người đẹp, Chúa không ngừng dùng ngân khố để làm nên những trò vui mới. Cứ đến dịp trung thu hằng năm, Chúa cho lấy gấm lụa trong kho ra làm đèn lồng mỗi cái có giá đến vài chục lạng, và dựng hàng trăm cây phù dung ven hồ Long Trì tại Bắc cung để treo đèn chỉ nhằm mục đích mua tiếng cười của Thị Huệ.

Có giai thoại còn nói rằng một lần, có một người Tây Dương đem đến phủ chúa một lọ nước hoa rao bán với giá 10 xe ngọc. Huệ thích lắm nhưng chúa còn ngần ngừ. Thị bèn bỏ ăn ba bữa làm Trịnh Sâm phải đồng ý mua mặc dù biết là giá đắt.

Xưa nay người ta nói anh hùng khó qua ải mỹ nhân, huống chi Trịnh Sâm tài cán chỉ có hạn lại ở thời mạt vận mà buông tuồng háo sắc dục nên mới trở thành tên bù nhìn trước Đặng Thị Huệ.


http://img2.blog.zdn.vn/40985633.jpg

Nguồn: http://www.baomoi.com/Dang-Thi-Hue-dat-mui-Trinh-Sam-nho-bi-thuat-phong-the/54/10883809.epi

Hansy
16-09-2014, 11:41 PM
- Thầy lang bất đắc dĩ

fZTrwaGKAcw

Hansy
17-09-2014, 05:27 PM
http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/luoc_do_khoi_nghia_nong_dan_tay_son_400.jpg
Lược đồ căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn
82
NGUYỄN PHÚC THUẦN
(1765- 1777)

Nguyễn Phúc Thuần nối ngôi nghiệp chúa
Trương Phúc Loan lấn cả quyền hành
Trong triều có Nguyễn Cư Trinh
Cũng không ngăn được tình hình rối ren

Trương Phúc Loan lấy quyền Quốc Phó (1765)
Xem triều đình chẳng có một ai
Chuyên quyền lại giết người ngay
Tóm thâu công việc trong ngoài vào tay

Ơ Đàng Ngoài Trịnh doanh bố cáo (1754)
Cấm người Âu truyền đạo Gia Tô (1746)
Cấm người Trung Quốc bấy giờ
Lim, Trắc gỗ quý không cho đem về

Ơ hai miền dân quê ly tán
Bởi mất mùa, lụt hạn triền miên
Gian manh làm giả bạc tiền
Khiến cho mất giá dân thêm đói nghèo

Biển Hà Tiên có nhiều hải sản
Lắm ghe thuyền lai vãn mưu sinh
Ngư dân ngoại quốc cố tình
Đánh bắt tôm cá nước mình mang đi

Việc trấn thủ lắm khi quá yếu (1758)
Muốn tuần tra lại thiếu chiến thuyền
Cuối năm bảy mốt vua Xiêm (1771)
Cất quân đánh chiếm Hà Tiên mấy ngày

Mạc Thiên Tứ sai người dụ địch
Tống Phước Hiệp đột kích sau lưng
Dồn quân giặc cướp tới cùng
Vượt qua biên giới tấn công mới về

Vua Xiêm bèn gửi ngay sứ giả
Sang cầu hòa vì đã bội giao
Hứa rằng nay trở về sau
Có gì xích mích cùng nhau nghị bàn

Vùng Hội An thuyền buôn tấp nập
Tàu nước Anh, Pháp, Nhật, Java
Thuế quan thâu vốn được là
Ba mươi ngàn lẻ tiền đà nhập kho

Tiền thu vô Phúc Loan chiếm đoạt
Thuế mười phần chỉ được một hai
Chuyên quyền Loan lại tác oai
Nhân dân đói khổ không ai không thù

Đồng bỏ hoang , ruộng khô cỏ cháy
Có nhiều làng chẳng thấy luỹ tre
Nhân dân đói khổ não nề
Nhiễu nhương trộm cướp lắm bề tang thương

Trước bối cảnh thê lương đổ nát
Đất Tây Sơn Nguyễn Nhạc hưng binh
Nêu cao danh nghĩa của mình
Loạn thần phải diệt, dành quyền về dân

Vào tháng tám nghĩa quân chiếm cứ (1773)
Ở Quy Nhơn, tuần phủ Đắc Tuyên
Vội vàng tháo chạy xuống thuyền
Dong buồm trốn thẳng ra miền Hóa Châu

Binh Tây Sơn thọc sâu vào chiếm (1773)
Đánh mạnh vào cứ điểm Bình Khang
Rồi cho áp sát phía Nam
Lấy vùng Bình Thuận như tằm ăn dâu

Quân chúa Nguyễn hai đầu bị ép (1774)
Bị cắt đường khó tiếp tế nhau
Lại thêm lính tráng ốm đau
Phúc Thuần ra lệnh rút vào Trấn Biên (1775)

Thấy Đàng Trong khắp miền nộichiến
Chúa Trịnh Sâm hạ lệnh động binh (1774)
Hành quân Chúa tự thân chinh
Giương cờ Nam tiến nắm quyền chỉ huy

Hoàng Ngũ Phúc sai đi tiền trạm
Vượt sông Gianh vây hãm Phú Xuân
Vợ con gia quyến Phúc Thuần
Dắt dìu bồng bế tránh quân Đàng Ngoài

Thành Phú Xuân lọt tay Chúa Trịnh
Nguyễn Phúc Thuần chạy lánh vào Nam
Để con trấn ở Quảng Nam
Bị Tây Sơn đuổi bắt làm con tin

Phe Tây Sơn dưới quyền Nguyễn Nhạc (1775)
Cùng Lập Đình ngầm ước với nhau
Cẩm Sơn buộc Trịnh đối đầu
Giao tranh mấy trận tiến vào Phú Xuân

Đổi sách lược với quân Lê -Trịnh
Tạm nghị hòa để tránh giao tranh
Tây Sơn đoán trước tình hình
Đương đầu Trịnh –Nguyễn khó giành phần hơn (1775)

Trịnh phong Nhạc: Tây Sơn hiệu trưởng
Trấn giữ vùng đất Quảng trở vô
Lữ-Huệ, Nhạc lại giao cho (1775)
Coi quân giữ đất kể từ Phú Yên

Nguyễn Khoa Kiên bị Huệ bắt sống
Sự kiện này rúng động ba quân
Đại binh chúa Nguyễn lần lần
Nếm mùi thất bại rút dần vào Nam

Ở Quảng Nam xẩy ra dịch bệnh (1775)
Phía Trịnh quân binh lính chết nhiều
Ngũ Phúc không dám đánh liều
Rút lui ra khỏi chân đèo Hải Vân

Tôn Thất Xuân mộ quân chiếm lại (1775)
Vùng đất mà Trịnh phải buông tay
Quân Xuân giữ được mấy ngày
Bị binh Nguyễn Nhạc đuổi ngay khỏi thành

Năm Bính thân (1776) Tây Sơn thừa thắng
Chiếm Long Hồ, đánh thẳng Trấn Biên
Lấy Sài Gòn, rồi lại đem
Quân vào Gia Định trăm thuyền trịch thu

Quân Tây Sơn dưới cờ Nguyễn Lữ
Vỗ yên dân, cắt cử nha quan
Thu gom khí giới kho tàng
Kiểm kê tài sản sai mang đem về

Triều đình Lê-Trịnh dần suy yếu
Gặp thiên tai lại thiếu tài nguyên
Mặc cho Nguyễn Nhạc lấn quyền
Tóm thâu lãnh thổ nguyên miền Đàng Trong


http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/luoc_do_tay_son_khoi_nghia_chong_cac_the_luc_phong _kien_va_chong_quan_xam_luoc_nuoc_ngoai1.__500.jpg
Lược đồ Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến và chống quân xâm lược nước ngoài.

Hansy
18-09-2014, 12:43 AM
- TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH - 6

eYu_Y4bQIA0

Hansy
18-09-2014, 12:14 PM
Chuyện về huyệt phát đế vương
của nhà Tây Sơn

Chuyện kể rằng, Nguyễn Nhạc đã lập mưu lừa thầy địa lý Tàu để đoạt được ngôi huyệt tốt, đem hài cốt thân phụ đến táng ở đó.

Bước đầu dấy nghiệp của nhà Tây Sơn gắn liền với nhiều câu chuyện phong thủy rất sống động về địa thế của vùng đất có núi non trùng điệp ở hai bờ sông Côn và luôn tồn tại song song với câu sấm truyền lịch sử vào thuở ấy: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”…

Có một “Hoành Sơn” ở phương Nam
Thường mỗi khi nhắc hai tiếng “Hoành Sơn” ở phía Bắc (tỉnh Quảng Bình) người ta liên tưởng đến cơ nghiệp nhà Nguyễn. Song cũng có một “Hoành Sơn” khác nữa nằm sâu về phía Nam (tỉnh Bình Định) vốn là nơi huyệt kết phát vương của anh em nhà Tây Sơn.

Núi Hoành Sơn chạy dài và tỏa rộng về phía đường quốc lộ với hai dòng suối (Đồng Tre và Chi Lưu) đưa nước uốn quanh dưới chân (thủy tụ). Mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc - song thân của Tây Sơn tam kiệt, tức ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - nằm trên đó. Song không ai biết chính xác mộ ở vị trí nào trong núi.

Đến nay, nơi huyệt táng ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn là điều bí ẩn thu hút các nhà nghiên cứu phong thủy. Tuy nhiên, căn cứ theo các tài liệu lịch sử cũng như dò tìm manh mối qua các nội dung truyền khẩu tại địa phương, người ta được biết ít nhất hai câu chuyện liên quan đến đại địa của nhà Tây Sơn ở đó như sau:

Chuyện thứ nhất kể rằng, vào khoảng giữa thế kỷ 18, có một thầy địa lý từ Trung Quốc không biết cách nào đã lặn lội vào tận đất Bình Định để tìm long mạch và huyệt kết vùng núi Hoành Sơn. Thầy đã dùng hai cây trúc lén cắm ở hai nơi trên triền núi Hoành Sơn để dò huyệt địa, rồi bỏ đi mất một thời gian. Những gì thầy địa lý làm đều không qua được mắt của Nguyễn Nhạc.


http://cms.kienthuc.net.vn/uploaded/maianh/2013_11_11/ktt_11.11_devuong1_kienthuc_znrm.jpg
Ảnh minh họa.

Nguyễn Nhạc theo dõi và thấy một trong hai cây trúc bị chết, tàn lụi, còn cây trúc kia vẫn sống tươi xanh. Ông nhổ cây trúc chết đem trồng vào chỗ cây trúc sống. Lại nhổ cây trúc sống đến trồng vào chỗ cây trúc đã chết. Chẳng bao lâu sau, thầy địa lý người Trung Hoa đến để xem kết quả thử địa ở Hoành Sơn thì thấy cả hai cây trúc đều khô chết nên thầy thất vọng thầm nghĩ đây không phải là đất phát vương nên bỏ đi biệt hẳn. Bấy giờ, Nguyễn Nhạc mới bốc mộ của cha mình là cụ Nguyễn Phi Phúc đem táng vào chỗ có cây trúc tươi mà chỉ Nguyễn Nhạc biết thôi.

Chuyện thứ hai cho rằng, thầy địa lý người Trung Hoa khi đến vùng Tây Sơn để dò tìm long mạch và chỗ huyệt kết đã ở tại nhà của Nguyễn Nhạc. Hằng ngày, thầy đi lùng kiếm khắp vùng, đem theo chiếc la bàn, tấm vải điều màu đỏ và một chiếc gậy đẽo từ gỗ của một cây đại thọ trăm năm. Hết chỗ này đến chỗ khác thầy vẫn không vừa ý, cuối cùng thầy địa lý để tâm đến hòn Hoành Sơn.

Nguyễn Nhạc dò biết nên âm thầm kín đáo theo sau thầy địa lý và phát hiện được nơi huyệt kết. Khi thầy địa lý về lại Trung Hoa để hốt cốt thân sinh của mình đem đến chỗ huyệt kết để chôn, bấy giờ Nguyễn Nhạc tìm cách đánh đổi: "Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén đem chiếc tráp (có hài cốt) cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn, vừa đến chân núi thì một con cọp Tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm một tiếng, nhảy ra vồ".

"Thầy Tàu hết hồn, quăng tráp và địa bàn (dùng dò hướng đất theo thuật phong thủy) mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong xuôi, thầy hớn hở trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc tráp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc và con cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi”.

Đó là đoạn văn kể về sự tích phong thủy Hoành Sơn của nhà thơ Quách Tấn (1910-1992), trong một tài liệu viết về di tích và truyền thuyết nhà Tây Sơn với kết luận rằng hai câu chuyện trên tuy có vài chi tiết không giống nhau, song đều đồng một điểm chính là cho biết mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.

Hoành Sơn còn gọi là núi Ngang, cao hơn 360 thước, có núi Ông Bình làm hậu tẩm, núi Ông Đốc với hình dạng “giống như một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi Ông Đốc không cao và tuy giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu hành lâu đời.

Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Đó là điềm “hổ cứ”. Còn “long bàn” là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây chảy xuống, một từ phía Tây Nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy”.

Một vùng núi bút non nghiên…
Hoành Sơn là nơi được các thầy địa lý của Trung Hoa cũng như của Việt Nam công nhận là đại địa “vì có, nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm, nào cổ (trống) nào chung (chuông), ở bên tả bên hữu… trước mặt trên ba nổng gò, đã mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu về. Và xa xa có hổ phục long bàn”. Bằng những phân tích địa thế phong thủy, Quách Tấn chứng minh những điều nêu trên là xác thực, vì:

- Bút đó là hòn Trung Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.
- Nghiên đó là hòn Hội Sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trung Sơn ở phía Bắc.

Hòn Hội Sơn cao hơn 490m nhưng trông đầy vẻ uy nghiêm “trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên đó vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng (nhờ nước đầy đủ).

Vì núi có vũng nước nên đám bình dân gọi núi là hòn Vũng (thay vì hòn Dũng). Còn đám hàn mặc (nho sinh) thì coi vũng nước là nghiên mực của trời nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn tức hòn Nghiên vậy, hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn trông cân đối”, phù hợp với câu ca:

Một vùng núi Bút non Nghiên
Trời giao ấn kiếm cho miền Tây Sơn.

Cuộc đất tốt như vậy kết hợp lời sấm truyền do thầy dạy học của ba anh em nhà Tây Sơn là cụ giáo Hiến thông báo, rằng: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”, đã tạo sức mạnh tâm linh thúc giục Tây Sơn tam kiệt khởi binh. Tây khởi nghĩa tức là dựng cờ nổi dậy ở vùng núi hướng Tây - vùng Tây Sơn. Bắc thu công là thành công lớn ở hướng Bắc, lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân (Huế bây giờ) năm 1788 và tiến ra Bắc đánh thắng quân Thanh xâm lược năm 1789…

Trong bài này chúng tôi chọn trích dẫn phong thủy nhà Tây Sơn chủ yếu theo tài liệu của Quách Tấn là vì trước hết gia đình ông đã trải qua chín đời ở ấp Tây Sơn hạ, ông viết: “Tây Sơn là dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ thống Trường Sơn (…) vì núi mệnh danh là Tây Sơn nên các vùng sơn cước bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn.

Trước kia gọi là ấp Tây Sơn với ba phần: Tây Sơn thượng, Tây Sơn trung và Tây Sơn hạ”. Những gì ông viết ra về địa lý, phong thủy của vùng đất Tây Sơn cũng như những câu chuyện truyền khẩu liên quan đều do chính ông nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ lão ở quê ông kể lại, giới thiệu qua cuốn tài liệu “Quang Trung – Nguyễn Huệ” của nhiều tác giả, do NXB Văn hóa Sài Gòn kết hợp tạp chí Xưa và Nay ấn hành 2008, nêu rõ trong khu vực Hoành Sơn“sát chân núi ngay phía Đông, khoảng giữa nổi lên một trảng đất.

Trong khoảng này, dáng núi lại hơi cong cong. Đứng phía trước trông vào thì giống một chiếc ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa vào núi, mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia Long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc, song thân của Vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng khi đào lên hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy”.

Như vậy, đến nay dấu tích về mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn còn mờ mịt. Những ngọn đèn dầu phụng đã bị nhà Nguyễn (Gia Long) thổi tắt, nhưng sự nghiệp của nhà Tây Sơn vẫn cháy đỏ trong lịch sử Việt Nam.

Nếu tính từ lúc dấy nghiệp vào năm Mậu Tuất 1778 là năm Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu (niên hiệu Thái Đức), gọi thành Đồ Bàn là Hoàng đế thành, đến lúc suy vong vào năm Nhâm Tuất 1802, thì nhà Tây Sơn tồn tại 24 năm.

Nếu tính từ năm Vua Quang Trung lên ngôi thì chỉ kéo dài có 14 năm (1788-1802). Dẫu ngắn ngủi nhưng nhà Tây Sơn đã để lại một dấu ấn sâu đậm qua chiến công của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long, đánh thắng hai mươi vạn quân Thanh xâm lược vang dội đến nay – ứng đúng câu sấm truyền Tây khởi nghĩa – Bắc thu công…

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/tham-cung/chuyen-ve-huyet-phat-de-vuong-cua-nha-tay-son-279944.html

Hansy
19-09-2014, 03:48 AM
- Giận mày tao ở với ai

sbzhxjKDMmM

Hansy
19-09-2014, 05:25 PM
NHÀ TÂY SƠN
(1788-1802)

http://thethaovietnam.vn/dataimages/201304/original/images650704_gia_long_thethaovietnam.vn.jpg
Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc


83.
Trung-Ương Hoàng-Đế
Nguyễn Nhạc
(1778-1793)

Năm Đinh-Dậu (1777) chiếm xong Gia-Định
Nguyễn-Huệ liền tiến ₫ánh Vĩnh-Long
Long-Xuyên cứ ₫iểm cuối cùng
Ở Đàng Trong tình hình ₫ổi khác

Kể từ ngày Nguyễn-Nhạc xưng vương
Đổi tên thành cũ Đồ-Bàn
5156- Thành tên Hoàng-Đế dùng làm kinh sư .

Chữ “Thái-Đức” dùng cho niên hiệu
Kể từ ₫ây chấp chiếu tiên vương
Cơ ₫ồ một cõi Nam phương
5160- Đàng Trong tạm ổn, mùa màng bội thu .

Trịnh Sâm
(tiếp theo)

Ở miền Bắc mất mùa hạn hán
Tỉnh Nghệ-An mất hẳn mùa màng
Trộm cướp quấy nhiễu Sơn-Nam
5164- Thổ tù Văn-Đỗng lấy luôn mỏ ₫ồng

Đặng-Thị-Huệ (322) ở trong phủ chúa
Quả là trang mỹ nữ truyệt trần
Mắt ₫ưa nghiêng nước nghiêng thành
5168- Trịnh-Sâm say ₫ắm, kết làm tri-âm

Người ₫ẹp vốn quê làng Phù-Đổng
Tỉnh Bắc-Ninh thuộc trấn Đông-Anh
Trước là tỳ nữ trong dinh
5172- Về sau ₫ược Chúa phong thành tuyên phi.

Kể từ khi sinh ra Trịnh-Cán
Thị-Huệ tham, những muốn cướp ngôi
Cho con vừa mới chào ₫ời
5176- Âm mưu soán ₫oạt, kiếm người tiếp tay

Hàng quận công có ngay Đình-Bảo
Sàm tấu rằng Trịnh-Khải bất lương
Con bất hiếu, thần bất trung
5180- Khiến cho Sâm cũng bằng lòng phế ₫i


http://vietnamdefence.com/Uploaded/QSVN/WARS-VN/PKVN-WARS/2009/nguyenhue2.JPG
Nguyễn Huệ (giả)

Hansy
20-09-2014, 06:34 AM
- Ngưu Lang Chức Nữ

7P7iONAVTXc

Hansy
20-09-2014, 12:53 PM
Nguyễn Nhạc
với vương triều Tây Sơn


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4c/NguyenNhac.jpg/272px-NguyenNhac.jpg
Tượng Nguyễn Nhạc tại bảo tàng Quang Trung


Nhà Tây Sơn kéo dài được có 30 năm nhưng là một triều đại rạng danh, tỏa sáng trong lịch sử dân tộc. Trong ba anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Nhạc chính là người khởi xướng phong trào khởi nghĩa và đặt nền móng cho vương triều.

Nguyễn Nhạc
Người khởi xướng phong trào khởi nghĩa

Theo các nguồn tài liệu và truyền thuyết địa phương, Nguyễn Nhạc là anh cả trong 3 anh em nhà Tây Sơn. Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, ông đã âm thầm tiến hành xây dựng lực lượng và xây dựng biểu tượng cho cuộc khởi nghĩa. Là người tài giỏi, buổi đầu "lấy việc buôn bán trầu làm nghề nghiệp, thường buôn bán ở miền người Thượng". Thời kỳ này ông đã bí mật xây dựng các vùng hậu cứ của mình trên vùng đất Tây Nguyên, mà dấu tích còn để lại trên vùng đất Tây Sơn Thượng Đạo.

Để có tài chính xây dựng căn cứ, ông tình nguyện làm biện lại thu thuế ở tuần Vân Đồn "tiêu pha mà thiếu tiền thuế, bị viên Đốc trưng Đằng tìm bắt rất gấp, bèn vào núi làm giặc cướp". Như vậy, trước khi vào núi khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc đã xây dựng được căn cứ địa vững chắc, chỉ đợi thời cơ chín muồi là hành động. Nguyễn Nhạc chủ động liên kết các thành phần nhân dân và dân tộc chuẩn bị cho khởi nghĩa. Năm mất mùa thiếu đói, lòng dân oán hận đối với chính quyền, ông đánh cướp của người giàu, chia cho người nghèo. Đối với hào phú địa phương, ông liên kết tạo lực lượng: "Ông Huyền Khê nhà vốn giàu có bỏ tiền của ra giúp đỡ thuận theo việc khởi nghĩa. Ông Nguyễn Thung tay thổ hào khuyến khích dẫn dắt cho Nhạc".

Để xây dựng nên hình ảnh bản thân, ông bắt được một thanh gươm cổ "tự bảo là gươm thần", dùng thanh gươm bước đầu xây dựng quyền lực tượng trưng cho mình. Để có thêm kiến thức ông đi học tại trường của giáo Hiến, một môn khách của Ngoại hữu Trương Văn Hạnh. Giáo Hiến là người chọn và khuyến khích Nguyễn Nhạc phất cờ khởi nghĩa "Giáo Hiến nói riêng với Nhạc: Lời sấm nói khởi nghĩa ở tây (Tây Sơn) thu chiến công ở bắc. Anh là người Tây Sơn hãy gắng lên". Lược qua những tư liệu trên cho thấy, Nguyễn Nhạc chính là thủ lĩnh và là người khởi xướng nên phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn.


http://cms.kienthuc.net.vn/static/images/dataimages/201209/original/images982648_tuong_tay_son_tam_kiet_tai_bao_tang_q uang_trung.jpg
Tượng “Tây Sơn tam kiệt” tại bảo tàng Quang Trung.

Người khai mở vương triều mới

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn dựng cờ năm 1771, sau hai năm chuẩn bị trên vùng thượng đạo, năm 1773, Nguyễn Nhạc tiến quân xuống đồng bằng chiếm phần lớn vùng đất Bình Định ngày nay. Ông "xưng là Đệ nhất trại chủ cai quản hai huyện là Phù Ly và Bồng Sơn. Và Nguyễn Thung là Đệ nhị Trại chủ, Huyền Khê làm Đệ tam Trại chủ.

Riêng phủ thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc dùng mưu tự mình ngồi vào cũi cho người báo bắt được Nhạc giải nộp vào trong thành, đêm phá cũi mà ra, phối hợp quân trong ngoài chiếm giữ thành Quy Nhơn. Trong cuộc chiến này, Nguyễn Nhạc đã tự mình làm tiên phong, chiếm cứ được một vùng rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Năm 1774 quân Trịnh vượt sông Gianh chiếm Phú Xuân, quân Nguyễn chạy về Nam, quân Tây Sơn bị kẹp giữa hai thế lực thù địch, Nguyễn Nhạc đã khôn khéo tạm hòa mặt bắc để dồn sức tấn công phương nam, ông nhận chức Tây Sơn hiệu trưởng tráng tiết tướng quân chỉ huy toàn bộ nghĩa quân.

Năm 1775 Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Yên, Nguyễn Huệ được phong chức Tây Sơn Hiệu tiền tướng quân. Năm 1776 Nguyễn Nhạc cho sai sửa thành Đồ Bàn làm trụ sở Bộ chỉ huy nghĩa quân. Ông tự xưng là Tây Sơn vương, đúc ấn vàng, phong cho Nguyễn Huệ làm Phụ chính; Nguyễn Lữ làm Thiếu Phó điều hành quân Tây Sơn. Từ đại bản doanh ông trực tiếp điều hành các đạo quân vào nam ra bắc, điều Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ vào đánh Gia Định đập tan cuộc nổi dậy của tàn quân chúa Nguyễn. Năm 1777 Nguyễn Nhạc nhún mình nhận chức "Quảng Nam trấn thủ tuyên úy Đại sứ" và tước "Cung Quốc Công". Năm 1778 Nguyễn Nhạc xây xong quốc thành" tự lập làm Hoàng Đế, gọi năm đầu niên hiệu là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là thành Hoàng Đế" chính thức khai mở một vương triều mới trong lịch sử Việt Nam.

Lê Đình Phụng
(Viện Khảo cổ học)
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/phong-thuy/nguyen-nhac-voi-vuong-trieu-tay-son-166556.html

Hansy
21-09-2014, 03:44 AM
- THẾ GIỚI CỔ TÍCH MỚI NHẤT 2014

zxWlwsfkcCc

Hansy
21-09-2014, 11:40 PM
https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcS0twtRlTwWOSPcD5QY4qIJmUL65jg3p fOKpJXFtL403plGWnjy
Việt Nam thời Trịnh Nguyễn

84
Trịnh-Cán
(1782)

Cán (323) lên ngôi trị vì một tháng
Ở kinh thành nổi loạn kiêu binh
Các quân Tam-Phủ hợp thành
5184- Một bè ác ₫ảng tung hoành khắp nơi .

Trịnh-Khải
(1782-1786)

Đám kiêu binh phế ngay Trịnh-Cán
Giết Bảo rồi phế giáng Huệ-phi
Trịnh-Khải lại ₫ược rước về ,
5188- Nối ngôi vương phủ, chỉ huy quan triều .

Loạn kiêu binh càng nhiều trầm trọng
Chúng coi thường tính mạng dân lương
Không còn luật pháp kỷ cương ,
5192- Nhân tâm oán hận kêu thưong thấu trời .


https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRDbiHOmygdw44_2zEjp6wA1LgG9hogg lP-rsr7hg2AEqP2IyIw
Pháo bắn đá thời Trịnh Nguyễn

Hansy
22-09-2014, 01:21 PM
- VỤ ÁN RUỘNG DƯA

NxZiyyCpJMg

Hansy
23-09-2014, 01:37 PM
66- LÊ - TRỊNH - NGUYỄN

fikRgQky9wY

Hansy
24-09-2014, 04:45 AM
- Tây Sơn hào kiệt
Phim Việt Nam

f1GoGuFK7Js

Hansy
24-09-2014, 02:20 PM
Kiêu binh


http://macdinhchireunion.net/art/Thaitu3.jpg
Trịnh Cán

1
Xế chiều hôm Tĩnh-đô vương Trịnh Sâm lìa đời, Vua Lê Hiển Tông hạ sắc phong Trịnh Cán làm chúa, hiệu là Diễn đô Vương. Ðặng Thị Huệ và bảy vị quan Ðại-thần phụ chính cũng nhận được những lời phủ dụ từ Hoàng cung. Cán mặc sắc phục tước Vương, ra sập ngồi cho hai hàng quan văn võ lạy chào. Sau, Diễm Quận công bế Cán vào Huỳnh cung ra mắt Thánh Mẫu.

Quan tài Sâm vẫn quàn đó, đợi phong Vương cho Cán rồi mới khâm liệm cho Sâm. Trong triều, chỉ một mình Tế Lý biết là Cấm binh họp nhau ở Khán Sơn, nhưng không có thì giờ đối phó. Lý chặc lưỡi khinh bỉ, trao cho Quận Châu chức Binh phiên trì sự và dặn phải cẩn thận.

Trên núi Khán Sơn, có lẽ có đến cả trăm người đến hội. Oai Lý còn lớn, nên ban đầu ai cũng dè dặt. Ðến khi bàn việc, không một ai lên tiếng. Bằng Vũ nhẩy lên đứng trên một mỏm đá, giọng kiên quyết :

- Gần như toàn thể Cấm binh Tam phủ ở trong quyền chỉ huy của chư vị có mặt ở đây. Lâm sự, ta chặt cầu cản đường cứu viện đường bộ từ Kinh Bắc và Sơn Tây. Mặt thủy, Ðinh Tích Nhưỡng có đến được cũng không đổ bộ nổi. Vả lại, họ có đến được Kinh cũng phải dăm bữa một tuần. Nếu ta xử sự cho gọn, bắt giết Huệ và Lý, rồi xin ngay Ðức Vua ban sắc phong Vương cho Thế tử Trịnh Tông, thì chỉ nội nhật là xong. Lúc đó, ai không nghe hiệu lệnh của Vua và Chúa là làm phản, bọn cứu viện nào dám đến nữa.

Ngưng lại, Bằng Vũ nhìn khắp lượt, nghiêm trang tiếp :
- Chỉ sợ anh em ở đây không đồng một lòng. Bây giờ trước Hoàng Thiên soi xét, ai tôn phù nghĩa tôi Chúa, quyết dẹp bọn tặc thần chuyên quyền, xin đứng sang bên phải. Ai chống, bên trái. Còn ở giữa thì xin cứ bình chân như vại, đừng có can thiệp.
Cả đám cấm binh ồn ào lên, rồi di động. Hai phần ba bước về bên phải. Còn lại đứng giữa trừ một người. Nguyên Nhưng há hốc mồm nhìn, thảng thốt kêu: « Sao vậy ? sao lại vậy ?».Trăm cặp mắt đổ dồn vào phía bên trái, và đã có người nắm đốc kiếm, miệng hầm hè. Người đó quần áo nho sinh, tóc búi, tay cầm quạt phẩy nhè nhẹ, đủng đỉnh bước lên đứng trên gò đất, nói rành mạch:

- Chưa được đâu ! Làm như cách Bằng Vũ nói là vội quá, dục tốc bất đạt. Hành sự chín chắn phải nghĩ đến khả năng bất thành, còn giữ đường mà lùi...
Giữ đường lùi đúng là đánh vào tâm lý đám Cấm binh thật ra vẫn còn sợ sệt. Họ nhôn nhao hỏi. Người cầm quạt nghiêm nghị :

- Bùi Bật Trực xin có một lời. Phàm làm việc, giữ được chính danh mà không mang hại là thượng sách. Ai cũng biết là Thánh Mẫu không đồng lòng việc phế Tông lập Cán. Hay nhất là bàn với Quốc Cửu Viêm Quận công, để ngài vào trình với Thánh Mẫu, và phát hiệu lệnh rồi mới bắt Lý và Huệ. Nếu thuận như vậy, Trực này xin làm con én đưa đường...

Ðám Cấm binh vỗ tay hoan hô, cho là diệu kế. Bằng Vũ gật gù rồi nói :
- Ngày khởi sự như vậy chưa biết. Tam quân lúc nào cũng phải sẵn sàng, khi nghe tôi vào phủ đường đánh ba hồi trống sau giờ cúng cơm buổi sáng là cứ việc tiến đến vây Chính-phủ và Vương phủ.
Ðám Cấm binh lại vỗ tay hoan hô, cho Vũ là đảm lược hơn người, cử Vũ cùng Trực đi gặp Quốc cửu.

Sáng hôm sau, trên đường đến dinh Quốc cửu, Vũ bảo Trực :
- ... có ý Quốc cửu và Thánh Mẫu hay không, đã cưỡi cọp rồi, xuống thế nào được !
Trực trả lời :
- Có càng hay. Không thì lại càng phải làm. Thành thì khối các vị Ðại-thần nhảy ra xin ăn theo, lo gì.

Quốc cửu là loại người vừa ngu vừa nhát, cứ ậm ừ, khuyên nên đến thẳng Huỳnh cung. Vũ và Trực đến, phao rằng Quốc cửu đã thuận và nay xin ý Thánh Mẫu. Bà ngần ngừ, biết là việc trọng đại, muốn trì hoãn và vời Hoàn Quận công vào tham khảo. Lúc đó, không biết kẻ nào đã thảo ra một tờ hịch, tựa là ¨ Tam Quân Phù Chính ¨, kể tội tiếm quyền, dâm loạn của Lý và Huệ, đòi truất Cán lập Tông. Hịch dán trên năm cửa ô, rồi chép ra truyền tay nhau đọc trộm, bàn dân xôn xao, có kẻ sợ Kinh sắp gặp đại biến, lục tục rủ nhau bồng bế về quê. Giá gạo cao vụt lên, và trộm cắp tha hồ hoành hành, bất kể luật pháp.

Hoàng Tế Lý gọi Toàn Nhật vào Chính-phủ, từ tốn hỏi Nhật về binh tình trong đội Trung Kính vốn có nhiệâm vụ bảo vệ Tam cung Ngũ phủ. Lý đăm chiêu :
- Tin được bao nhiêu đầu lính ?
- Năm sáu trăm, Nhật trả lời.
Nhìn ra sảnh đường, Lý làm vẻ thản nhiên :
- Ðịch được bao nhiêu ?
Nhật thận trọng :
- Ba nghìn, ba nghìn rưởi.
- Bao lâu ? Lý cười nhẹ, nhướng mắt lên.
Ngần ngừ một lát, Nhật đáp, giọng quả quyết :
- Ba nghìn thì cả tuần, ba nghìn rưởi, bốn đến năm ngày.

Lý trầm ngâm nghĩ ngợi rồi xuất một nghìn lượng bạc ra cho Nhật để thưởng cho lính đội Trung Kính. Mặt khác, Lý đích thân phái người của viện Nội Mật lên Sơn Tây vời quân Hoàng Phùng Cơ, sang Hải Dương vời quân Ðinh Tích Nhưỡng và xuống Thanh Hóa vời đội chiến thuyền của Nguyễn Hữu Chỉnh.



***

2
Từ dạo anh mình là Nguyễn Khản được tha tội chết, chỉ bị Chúa Trịnh Sâm giam lỏng tại tư dinh Châu Quận công, Nguyễn Du đã lánh lên Tuyên Quang, tá túc nhà một viên võ quan cấp thấp. Năm sau, Du về trấn Sơn Nam, rồi thi đỗ Tam trường khóa năm Giáp Thìn. Vì đường xá xa xôi, Du ít tin tức, không hề biết là Ðặng Thị Mai bị giam hãm, và Trọng Thức phải bỏ trốn, trôi giạt chẳng biết đến nơi đâu. Mấy tháng gần đây, tiếng đồn đãi về khả năng binh biến ở Kinh lan xa, bàn đân ở các phiên trấn ngóng cổ chờ diễn biến. Du quyết định lần về Thăng Long, một mặt vì tò mò, một mặt vì muốn tìm giữ những tập bản thảo do chính mình trước tác đã để lại dinh Kim Âu, tư dinh của anh mình là Nguyễn Khản.

Hai hôm sau ngày về Kinh, Du đến dinh Khương Tả hầu nhưng Nhật vắng mặt. Ðành ngồi đợi, Du nhìn đám Cấm binh mặt mũi nghiêm trọng, biết là tiếng đồn đãi cóù xác cứ. Bố-già, người lính lâu năm nhất, cũng mò tới tìm Nhật. Ông ta nhìn Du đăm đăm, buồn rầu :
- Ðời lính tôi suốt mấy mươi năm rồi, đến nay đâu lẽ nào phải cầm gươm cầm kiếm đánh đấm với chính anh em lính chúng tôi... Ðánh giặc, lúc nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng ai nỡ lòng nào đâm chém vào ruột vào thịt mình.

Nhìn cánh bướm vàng chập chờn trên hàng dâm bụt màu đỏ tươi, Du bâng quơ an ủi cho có lệ người lính già nhăn nhó đang khổ tâm lo lắng. Nhật về, thấy Du, vội ôm chầm lấy, quên Bố-già đứng lóng ngóng bên cạnh. Uống chén nước hàn huyên xong, nhìn Nhật, Du nhắc lại lời Bố-già. Lúc ấy, Bố-già chắp tay, giọng trang trọng :
- Quan Chưởng cơ, chỉ có ngài mới cứu được việc anh em lính chúng tôi phải đâm chém lẫn nhau. Bọn Bằng Vũ, Nguyên Nhưng hăng lắm, không cản được, lại có Bật Trực thúc vào. Lính Tiền Hùng đã từng tốp vào Kinh, bỏ hết phòng thủ tuyến sông, tiếng là về cứu Ấu Chúa. Ngoài ra, cơ đội Nhượng Trung, Hậu Dũng và Tiền Ninh cũng phối hợp trấn đóng những chỗ hiểm yếu, hăm hở đợi tiếng trống hiệu... Riêng đội Trung Kính và Thị Nội tả quân do Chưởng cơ chỉ huy là không động tĩnh gì, vẫn tiếp tục phận sự bảo vệ Tam cung Ngũ phủ. Nay, anh em ăn thề trên núi Khán Sơn phái tôi đến xin ý của Chưởng cơ, và cầu trời cho khỏi đổ máu, là phúc cho lính...

Nói đến đấy, Bố-già sụp xuống quì lạy Nhật, khóc ròng ròng. Nhật vội đỡ Bố-già lên, mủi thương, nhẹ nhàng :
- Xin lão đứng dậy. Nhật này cũng chẳng ưa gì mùi máu.
Nghiêm nghị nhìn mớ tóc lởm chởm bạc mọc như nổi loạn trên đầu người lính già đã suốt một đời chinh chiến, Nhật trầm giọng :
- Cuộc nội chiến này không tránh được nữa rồi. Ngay như quan Chánh dường có lập thế tử Tông lên ngôi Chúa, ta cũng đồ rằng chưa đủ để tránh việc binh đao ...
Thở dài, Nhật quay sang Du, hỏi :
- Có phải đường huynh là Nguyễn Khản đã về dinh Kim Âu rồi chăng ?
Du lắc đầu. Bố-già chen vào :

- Không, Khản dẫu ở nhà Châu quận công nhưng cả hai đều biết rõ tình thế. Bây giờ, chỉ chờ ý quan Chưởng cơ rồi anh em lính chúng tôi mới dám động tĩnh.
Nhíu mày lại, Nhật nhăn mặt nhìn ra góc vườn, nét đăm chiêu khiến chàng như già đi hàng chục tuổi. Bố-già tần ngần, nước mắt lại ứa ra, giàn giụa chảy theo vết nhăn đã thành rãnh trên khuôn mặt phong trần sạm màu nắng gió. Du ngần ngừ, nói trong cuống họng :
- Cứ đổ một giọt máu là phí đi một giọt, dẫu là của bất cứ ai.
Nhật vùng đứng dậy, vỗ nhẹ lên vai Du. Ôm vai Bố-già tiễn ra cổng, Nhật nhìn lão, nói:
- ... Ta không phụ ai, nhưng cũng chẳng để ai phụ mình. Lão về bảo họ như vậy.


***
http://images.skcd.com.vn/content_img/2014/0626/5e39c0b4b3e7b93252c1fb590c39ba5f.jpg
(Còn nữa)

Hansy
26-09-2014, 03:42 AM
- Của thiên trả địa

wqkOT98VXos

Hansy
26-09-2014, 11:57 AM
3
Trong thời gian đó, Thánh Mẫu đã gặp Hoàn Quận công. Hoàn đồng lòng, xin Thánh Mẫu hạ chỉ dụ Hoàng Tế Lý, hứa sẽ thuyết phục đám Ðại-thần phụ chính. Chỉ của Thánh Mẫu như sau:

« Ấu Chúa ốm đau, trong nước bàn dân lo sợ nghi ngờ. Tướng quân nếu lấy xã tắc làm trọng, thì nên tạm cho Thế tử Tông nhiếp chính để yên lòng người. Chờ đến khi nào Ấu Chúa trưởng thành, Tông sẽ trả lại chính quyền, lui về làm tôi...»

Tế Lý lĩnh chỉ, đọc xong, lắc đầu cười nhạt. Khạc vào cái ống nhổ bằng đồng để dưới chân, Lý lẩm bẩm « ... rõ là dơ. Nghi ngờ gì thì lại chẳng dám nói ». Ngồi ngay ngắn trước thư án, Lý tự lấy bút nghiên ra thảo :

« Lý tôi quì lạy dưới cửa thánh Mẫu. Thánh Mẫu đã lo đến việc lớn của xã tắc, tôi đâu dám không vâng lời ? Chỉ hiềm là việc đó không phải ý của Tiên Vương. Lý tôi khi được Tiên Vương gửi gấm, ngài đã dặn dò cặn kẽ, lại có tờ «Cố mệnh» làm bằng. Nay quan tài còn quàn ở đây mà thay đổi mệnh ngài, lòng tôi nghĩ sao cho đang ? Vậy xin việc đó hãy để sau rồi sẽ liệu tính ... Vả chăng, trong thiên hạ sau này nếu lo âu sẽ hết lo, nếu ngờ vực sẽ hết ngờ, dám xin Thánh Mẫu cứ yên tâm... »

Ðưa thư hồi âm về Thánh Mẫu xong, Tế Lý gọi hai hàng quan văn võ vào triều ngay buổi chiều hôm đó tại Nội phủ. Ðám Thị Nội quân được chia ra canh gác, mặc quần áo trận, cứ sáu thước có một người lính, gươm giáo sáng lòe. Ðội Nội cuông chấn mặt Bắc, Nội dực mặt nam, còn phía đông và tây do đội Nội nhưng và Nội kiệu phòng thủ. Ở vòng ngoài, những dinh thự lớn như dinh Kim Âu, dinh Trung Nhuệ đều được canh gác cẩn mật bởi cơ đội chủ lực Trung Kính. Ðám Thị-kỵ quân được giao giữ cung Vọng Hà, cung Tây Long và cung Trung Hoa ở trung tâm, có thể dùng như lực lượng trù bị sẵn sàng cứu viện những mặt quan yếu.

Cuối giờ Thân, các quan đã đủ mặt, ngồi hai hàng ghế. Trên trướng cao, chiếc ngai Chúa để trống, nhưng bên cạnh có sắp một chiếc ghế cho Ðặng Tuyên-phi. Ở hàng đầu, Tế Lý liếc mắt nhìn kiểm điểm, thấy thiếu Hoàn Quận công. Quốc cửu Viêm Quận công cáo ốm, không đến. Lý trình bày sự thể, cắt đặt công việc cho Châu Quận công là Binh phiên Trì sự, đưa ra bằng chứng có người tố Viêm Quận công định làm loạn và yêu cầu chư quan đình nghị để trị tội. Lý chau mày, trầm giọng :

- Chỉ mai kia là có biến, hàng quan võ các ông cũng nên một phen hãn mã, thử xem nghề cung kiếm còn phong độ hay không ... Phía quan văn, các ông bảo người nhà sửa soạn đao kiếm để tự phòng vệ, chớ có khinh trọng.

Hai hàng quan xì xào, hư thực, bấm bụng nói cứng nhưng lo ngay ngáy, ai nấy nhấp nhổm chỉ muốn về nhà. Trời sập tối, có kẻ khuyên Lý mang nghĩa sĩ vào phủ hộ vệ cho mình, có kẻ lại bàn là Lý nên ẵm Ấu Chúa trốn khỏi Kinh rồi gọi quân ở ngoài vào bắt bọn phản loạn. Lý chỉ im nghe, rồi chắp tay cảm tạ các quan, giọng khẳng khái :
- Xưa nay, hư thực trong chuyện binh biến thế nào ai mà lường được. Dẫu sao, cứ để thong thả, không việc gì phải mất bình tĩnh .

Lý cười, ung dung, tiếp :
- Ví bằng việc gấp quá, không trị nổi bọn làm giặc, thì tôi đã vâng mệnh Tiên Vương, sống thác cũng cam, có chi mà hốt hoảng ?
Ðêm hôm ấy, Tế Lý vẫn mang vài người hầu như thường lệ vào ngủ ở Phủ đường nhưng cho người đi gọi Toàn Nhật. Chờ đến canh hai không thấy, Lý bắt đầu lo, cả đêm không chợp mắt.


***
4
Tiễn Bố-già xong, Nhật thấy đầu choáng váng, vào nhà trong đặt mình xuống giường. Mấy hôm nay, trời ẩm đục, âm u, mây trĩu xuống như bị ai trì kéo. Chợp mắt được một lúc, Nhật nghe tiếng người gọi tên mình. Nhật choàng dậy. Cạnh cửa sổ, bóng người đàn bà ở miếu Ba Cô trên Phố Hiến thấp thoáng. Lưng quay lại, giải áo trắng bung phần phật mặc dầu không có gió, tóc xõa ra đằng sau như uốn như lượn, người đàn bà như chực bị bốc lên không trung. «Con ngoan, mẹ về với con nhưng chẳng được lâu, lại sắp phải đi đây ! ». Nhật đứng dậy, mắt căng ra, gọi : « Mẹ đừng đi nữa, ở lại để con báo hiếu mẹ ... Tội nghiệp thân mẹ ». Tiếng khóc thút thít, bắt đầu còn nhỏ, sau lớn dần rồi choáng ngợp thành những tiếng nấc, lẫn vào dăm câu nói tức tửi : «... báo hiếu, con ơi..., mẹ chờ... ». Cánh cửa sổ phềnh ra, đen ngòm, hút lấy giải áo trắng vẫn phần phật bay, mờ dần rồi tan biến như khói. Nhật gào lên : «Mẹ, mẹ ơi... »
Khi Du vào lay, Nhật tỉnh lại, thấy mặt mình lã chã nước mắt, người nhễ nhại mồ hôi.

Du nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh, lo ngại :
- Chắc huynh ốm mất rồi.
Nhật nhắm mắt định thần một lúc rồi đứng dậy ra sân sau. Chàng rút gươm chém ba đường, cứ thế chém, vừa chém vừa hét. Không biết vì lẽ gì, đường gươm thứ nhất lại chậm hơn trước. Nhật ngừng, nói với Du : « Du xem mắt ta có ánh căm hờn không ? » rồi lại tiếp tục chém.

Tối đến, Du về dinh Kim Âu. Toàn Nhật lên ngựa đi thẳng về phía sông Nhị. Quả thật những điếm canh nay bỏ trống, lính Tiền Hùng đã kéo nhau vào Kinh. Ngồi ven sông, Nhật nghe tiếng nước rì rào như tâm sự những nỗi niềm từ vạn đại. Chàng nhắm mắt, liên tưởng đến khoảng thời gian vừa qua. Khi quan Chánh dường trao cho chàng thanh kiếm « Hoàng gia », Nhật biết là gốc gác mình quả có rễ rợ sâu xa với họ Hoàng. Cha chàng là ai ? Là Quận Việp Hoàng ngũ Phúc ? Hay chính là Hoàng Tế Lý ? Nếu là Quận Việp thì thôi, đã chết rồi, vậy chẳng qua là chàng mồ côi cha từ nhỏ ! Nhưng nếu là Tế Lý ? Thế có nghĩa là kẻ phụ bạc mẹ chàng, khiến mẹ phải trầm mình chết để rửa nhục, sờ sờ còn đấy, quyền cao chức trọng, thế lật thiên hạ như trở bàn tay. Và bóng mẹ chàng ở miếu Ba Cô còn luẩn quẩn quanh đây, phải chăng là để nhắc nhở chàng mối hận câu chuyện ngày xưa mà nước sông Lam vẫn chưa rửa sạch ?
Nhật bần thần, tay mân mê đốc kiếm, lòng phân vân. Hình ảnh Bố-già và những giọt nước mắt một người không muốn máu lính vấy lẫn tay lính lại hiện ra. Ngày mai sự thể diễn biến ra sao ? Chàng thừa biết là lính đội Trung Kính sẽ nghe lệnh, chắc chắn sẽ chống trả khi bị tấn công. Từ ba hôm nay, họ khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Nếu việc binh đao không tránh được, số nạn nhân hẳn là không dưới vài ngàn. Nhưng làm thế nào đây ? Lúc can qua, Hoàng Tế Lý sẽ trực tiếp chỉ huy cả ba cơ đội Thị Nội, Thị Kỵ và Trung Kính. Con người Lý chiến trận đã quen, chắc gì bọn Bằng Vũ, Nguyên Nhưng thủ thắng được. Hơn nữa, quân biên ngoại hiện cũng đã rục rịch về Kinh mang danh nghĩa phù Chúa. Xương máu hàng vạn người sẽ đổ ra ! Nhưng để làm gì ? Cho ai ? Nhật chép miệng, thở dài. Chắc chắn là không phải cho những người phải liều mạng mình vào chuyện xương rơi máu đổ !
Nhật nhìn dòng sông, miệng thầm gọi : « Nước, nước ơi ! cho ta xin một lời khuyên. » Mắt rưng rưng, chàng ngửng lên trời tìm một ánh sao đêm. Không, không có một vì sao nào hiện ra chỉ lối.

Nhật nhắm mắt, cố lôi trong óc mớ chữ nghĩa đã học xem có gì giúp được cho chàng lấy được cái quyết định cam go này. Không, vẫn không. Không có thứ chữ nghĩa nào đặt lên bàn cân, một bên là máu xương hàng trăm hàng ngàn người, một bên là cha chàng, cho dẫu rằng cha chàng có phụ rẫy, bức tử mẹ chàng.
Phải chăng có thầy chàng, thầy sẽ nói gì ? Phải chăng có Trọng Thức, Thức sẽ khuyên gì ?

Nhìn sang bên kia sông, Nhật bỗng thèm bơi qua, rũ hết đi mọi vướng bận mặc cho cán cân nghiêng thế nào thì nghiêng, đổ thế nào thì đổ. Ðầu nóng lên đến bốc khói, Nhật rút từ sau lưng cây kiếm võ sĩ do Mishima tặng, rồi vừa hét vừa chém, tiếng xé gió nghe đến buốt xương lạnh thịt. Chàng chém cho đến độ tay mỏi nhừ, óc rỗng tuếch, mồ hôi đổ ra ướt hết hai lần áo. Ngồi xuống vệ cỏ, Nhật nhắm mắt lại. Quái lạ, sao chàng thấy dòng sông dưới kia bỗng thành một dòng sông máu đỏ lừ lừ, cú lững lờ trôi đi.
« Ðổ một giọt máu là phí một giọt », tiếng Du văng vẳng từ đâu đưa lại. Phải, có phải thế chăng ? Câu trả lời bẩy bật người Nhật dậy.
Phóng ngựa vào trung quân của cơ đội Trung Kính ra quân lệnh xong, Nhật đến dinh Kim Âu nơi Du trú ngụ chứ không về nhà. Khoảng canh hai, những tốp quân cứ mười người một từ ba cửa ô Ông Thánh, Trường Bản và ô Cầu Giấy lẳng lặng chia nhau tản ra ven đô. Họ đi ngược lên bến Tây Long, giữ bến Hàm Như, bến Thúy Ái cho đến bến Thanh Trì.


***
5
Sáng ra, trong Kinh im ắng đến ngơ ngác. Hàng dân sợ, không họp chợ, nhà nào nhà nấy đóng chặt cửa ngõ. Người kẻ chợ thấp thỏm, chờ đợi một biến cố đến từ sự quái ác của vần xoay. Trời lại mưa tầm tã, nhìn ra một màu trắng xóa, như sắm sửa tang ma cho những thân phận bị xô đẩy vào vòng rủi may đao kiếm.
Sau giờ cúng cơm, ba hồi trống chín tiếng trong Phủ Chúa chợt thúc lên rộn rã. Ðột nhiên, tiếng reo hò vang dội từ bốn phía nổi lên. Sáu người lính trong đội Thị Nội vây Bằng Vũ lại, trói giật cánh khuỷu, đẩy vào sân Chính phủ. Ở bên ngoài, một đám lính Tam phủ kéo ra, gươm giáo loảng xoảng, vừa đi vừa hò hét, tiếng chân dậm trên đất thình thịnh. Quận Châu ra lệnh đóng chặt cửa Chính-phủ và Nội-phủ, hớt hải gọi lính Thị-kỵ ra tiếp sức với đội Thị Nội, rồi báo Hoàng Tế Lý :
- Lạ thật ! Không còn bóng lính nào của cơ đội Trung Kính cả !

Bụng hoảng sợ, nhưng lại lấy vẻ ung dung, Lý cười bảo:
- Ðừng lo, việc quân ta đã xếp đặt đâu đấy rồi ..
Quận Châu đi ra lắc đầu, mặt tái ngắt. Ðiệu Bằng Vũ bắt quì trước thềm, Lý cao giọng hỏi :
- Mày đánh trống làm hiệu dấy loạn, vậy làm loạn để đạt mục đích gì ?
Bằng Vũ vùng mình đứng dậy, miệng hiên ngang nói :
- Ta không làm loạn. Kẻ làm loạn là bọn lập ra Ấu Chúa để tiếm quyền rồi phá nát cơ nghiệp nhà Chúa !
Lý bình tĩnh :
- Bay có bao nhiêu lính mà làm loạn nổi ?
Bằng Vũ ngửng mặt dằn giọng :
- Hỏi cung ta à ? Ðã vào đây, ta nào sợ gì cái chết ! Nhưng để ta bảo cho mi biết, bọn ta là lính đất «tắm gội » của nhà Chúa, đã đồng tâm với nhau từ hai trấn Thanh-Nghệ cho đến tận Tuyên Quang, Hà Bắc ...
Lý quát :
- Giỏi đấy ! Chư Ðại-thần phụ chính, ta phải chém đầu thằng tặc này, bêu lên làm lệnh cho ba quân để giữ phép nước !

Lúc ấy, Tạ Danh Thùy đứng ra can, trong bụng là tìm cách cứu lấy thân mình nếu vạn nhất không thắng được bọn lính Tam phủ, nhưng ngoài mồm lại nói :
- Giết một đứa như tên đánh trống này thì lấy đâu là đầu mối để bắt bọn đầu đảng ?
Lý chỉ cười nhạt, ra đứng ngoài lan can nhướng mắt xem xét tình hình. Vẫy tay gọi gia nhân, Lý thì thào vào tai, rồi vào thảo tờ khải :
« Lý tôi kính tâu : đám ba quân nổi loạn làm cho Kinh khuyết náo động. Tôi xin vâng lĩnh mệnh Chúa đem quân giết chúng, nếu được, ấy là nhờ oai lĩnh nhà Chúa, nhược bằng không, tôi đành liều chết để xuống dưới âm cung ra mắt Tiên Vương ».
Trao tờ khải cho đám phụ chính, Lý ung dung nói : «... Cứ yên tâm, đâu sẽ vào đấy ! » rồi lên ngựa trẩy về tư dinh của Trịnh Cán với sáu người võ sĩ hộ vệ.
Bấy giờ, Ðặng Tuyên-phi và Diễm Quận công đã chực sẵn chờ Lý. Huệ cười khẩy, nói mát :
-... quan Chánh dường tính toán thế nào để tam quân mở hội mừng Tân Chúa vui vẻ đến như vậy !

Lý lẳng lặng đi trước, Diễm ẵm Cán, Huệ và dăm ba tì nữ đi sau, đến trước cửa dẫn vào đường hầm bí mật được ngụy trang sau một cái tủ chè bằng gỗ mun rộng bằng nửa bức tường. Lý mở tủ, tay vặn ba cái khoen bằng đồng, sai võ sĩ đẩy tủ sang một bên. Cửa hầm rộng vừa một người đi lờ mờ hắt ánh sáng lên. Ðường hầm đó sẽ dẫn vào nghĩa địa cạnh bến Tây Long. Lý tính rằng Ấu Chúa và Ðặng Tuyên-phi có thể lấy thuyền con sang tả ngạn sông Nhị, từ đó tắp lên Kinh Bắc rồi liên lạc với Quận Thạc là Hoàng Phùng Cơ đang chuyển quân về Kinh cứu giá.
Ðợi cho bọn người tùy tùng Ấu Chúa lục tục vào hầm, Lý đóng cửa, đi ra gọi đám võ sĩ cận vệ đã nai nịt gọn ghẽ. Ghé vào tai tên Chưởng đội, Lý dặn dò, nét mặt vẫn bình tĩnh nhưng giọng nói đã có chút căng thẳng. Vẫy tay, hai tên phu lực lưỡng vai khiêng một hòm vàng cong người từng bước đi theo Lý vào căn phòng có cánh cửa bí mật. Ðang làm động tác mở cửa hầm, Lý chợt giật nẩy người, lùi ngược lại, quát : « Ai ? ».

Từ cửa hầm, một người khoan thai bước ra, lưng gài kiếm dài, tay cầm kiếm ngắn, vai đeo khiên. Tế Lý sững sờ rồi thét lên:
- A ! Toàn Nhật, là ra ngươi ...
Nhật nghiêng người thi lễ, miệâng cười buồn buồn :
- Kính chào thượng quan, đội Trung Kính đã chờ Ấu Chúa ở ven sông để xa giá.
Nhật nghiến răng, rành mạch :
- Nhưng thượng quan là rường cột, đâu bỏ đi như thế được!
Lý tái mặt, tay nắm vào đốc kiếm. Nghĩ thế nào, Lý lại bỏ ra, giọng như van vỉ :
- Nhật con, con cầm thanh kiếm Hoàng gia do tổ phụ truyền lại là để giết cha sao ?
Nhật nhìn lên trần, gằn từng tiếng, lạnh lùng :
- Tôi họ Võ, đẻ ra chưa đầy tháng thì mẹ tôi trầm mình trong dòng sông Lam. Sống với ông ngoại đến năm mười hai, ông tôi mất. Từ đó, tôi về làm nghĩa tử của La Sơn Phu tử họ Nguyễn, làm gì có máu mủ với họ Hoàng ?
Toàn Nhật vung tay ném về phía Tế Lý, miệng tiếp :
- Quan Chánh dường nhận lầm người, đây xin trả lại ngài thanh kiếm !

Tế Lý bắt lấy, rút ra khỏi bao, nhìn chằm chặp vào sống kiếm, rồi bật cười não nùng, miệng rên : « Ới oan gia, hỡi oan gia ... »
Sáu người võ sĩ đứng hai hàng quanh Lý ngẩn ra như phỗng, không biết cư xử thế nào, đưa mắt nhìn nhau. Chợt Lý quát :
- Thôi thì đành ... Giết nó cho ta!
Ba người võ sĩ lừ lừ tiến lên, tay đao sáng quắc, rồi bất ngờ xông vào. Lóe lên ba lằn sáng và một tiếng hét. Toàn Nhật thoắt đã trở về vị trí cũ, thanh kiếm cũng lại bỏ vào bao giắt sau lưng. Một thây người đã mất đầu đổ xuống như thân cây mục, máu phun phì phì. Còn lại hai võ sĩ. Họ thất thần, rồi gập xuống, theo vết chém xẻ đứt bảo giáp từ trên xuống dưới và từ trái sang phải.

Lý kinh hoảng rú lên, rồi quát : « Bắn, bắn nó ... ». Ba người võ sĩ còn sống vừa đưa tay ra sau lấy súng thì Nhật xoay người hất ngược cánh áo. Trên mu bàn tay cả ba võ sĩ, ba đồng chinh cạnh mài sắc ghim vào, máu ứa ra nhỏ giọt xuống sàn đá hoa. Họ thất sắc, đứng như bị thôi miên, ngẩn người ra nhìn.
Nhật lại nhẹ nhàng :
- Ba vị không hại Nhật này, thì không lo Nhật hại ba vị, xin đi đi.
Khi họ lùi ra, Tế Lý cũng liền chân theo, vừa bước vừa lẩm bẩm những gì không ai nghe rõ.

***
(Còn nữa)

Hansy
27-09-2014, 05:48 PM
-Lấy chồng dê

EJYHMK-WHO0

Hansy
28-09-2014, 01:12 AM
6
Cắm đầu chạy luồn qua những luống hoa thược dược trong vườn uyển, Lý và ba người võ sĩ trở lại Chính-phủ. Bọn quan Ðại-thần phụ chính ngơ ngác chờ Lý, nhao nhao lên kêu. Quận Châu báo vào là loạn binh đang đục tường để vào phủ. Lý ngầm tính trong bụng là sẽ trì hoãn bằng cách nhậân đòi hỏi đưa Tông lên ngôi Chúa, nhưng bó buộc phải chờ sắc phong của Vua Lê cho thuận danh nghĩa. Hét quản tượng đưa voi ra, Lý nhảy lên, sai thúc chiêng. Bấy giờ, Quận Châu đã mở toang cổng phủ, đám binh Tam phủ kéo nhau vào đầy sân, không có trật tự nào, vừa chen vai thích cánh, vừa la hét vừa chửi tục. Lý tuốt gươm đứng trên lưng voi, từ từ đi ra, quát :
- Bớ tam quân, các người là lính đã mấy đời ơn Vua ơn Chúa, có chi không toại chí thì cứ đề bạt qua chư quan, việc gì mà phải mất phép nước mang tiếng loạn tặc ...

Vốn sợ oai Tế Lý, lại chẳng biết đầu suôi đuôi ngược thế nào, đám binh Tam phủ kéo nhau ngồi bệt xuống đất. Nhân thế, Lý đánh thêm một đòn tâm lý, lập lờ tiếp :
- Nay, ta bảo cho biết, lính tráng là để đi dẹp giặc chứ không phải đi làm giặc. Cơ đội Trung Kính đã vây quanh từ ven đô trở vào, nhưng ta không nỡ nồi da xáo thịt, nên không cho hành động sợ làm máu đổ vô ích ... Vậy chư quân ai về đội ngũ nấy, làm tờ khải lên triều đình, việc gì ta cũng sẽ cất nhắc cho ...

Ðám lính hoang mang, nhìn nhau, rồi đùn Bố-già ra. Vị lão binh này đi đến trước chân voi, quì xuống, nói lớn :
- Bẩm Chánh dường thượng quan, kẻ hèn này là Hài đã suốt đời làm lính, một lòng ân nhà Chúa, và chỉ mong giữ yên xã tắc chứ đâu muốn dấy loạn thành ra bọn tặc phản...Trình quan, cứ như chỉ dụ của Thánh Mẫu là tạm lập Thế tử Tông vào ngôi Chúa, đợi cho Ấu Chúa trưởng thành rồi trả lại quyền bính, thì bọn lính tráng chúng tôi cắn cỏ ngậm vành đội ơn bề trên, và xin tha ngay tội náo động cung khuyết, ai về cơ nấy lập tức. Bằng không thì…
Nói chưa dứt lời, bỗng con voi rống lên, lấy vòi cuốn lấy Bố-già tung bổng lên trời rồi quật xuống. Thì ra có kẻ lấy kích đâm vào bụng voi, nó nổi khùng, phản ứng nhanh khiến quản tượng không kịp kìm lại. Ba quân nhốn nháo đứng cả dậy, ào ào ném thương, ném kích vào mình voi, miệng la hét vang trời át tiếng gào của Lý. Quản tượng bị câu liêm ném lên giật xuống đất và bị ba quân dẵm chết tại chỗ. Con voi lùi ra sau, luống cuống, xoay vòng vòng. Lý kêu : « Bằng lòng, ta bằng lòng ... » nhưng nào có ai nghe nữa. Năm sáu cái câu liêm ném lên cùng một lúc giật Lý ngã từ mình voi xuống đất. Chỉ hai phút sau, Lý đã là một cái xác không hồn, đầu bị đập nát, óc phòi ra trắng hếu.

Có một kẻ lấy đại đao nhè cổ Hoàng Tế Lý chém hai nhát. Cổ không đứt, hắn nhay qua nhay lại lưỡi đao, mồm văng tục. Thấy thế, một kẻ gạt hắn ra, ngồi xổm thọc kiếm vào khớp xương cắt như đồ tể đang sẻ xương lóc thịt trâu bò. Lúc chiếc đầu lìa ra khỏi xác, lại một kẻ khác lấy đầu ngọn giáo cắm vào, rồi đưa lên cao, miệng hò như khi hát đúm.
Ðám lính rầm rập bước theo ngọn giáo cắm đầu Hoàng Tế Lý, vừa đi vừa hò hét như hổ beo trong cát bụi mờ mịt. Riêng có hai kẻ, mặt mũi gân guốc, mắt mầu đỏ đục, chạy ào lại lôi cái xác không đầu vào một góc. Họ cởi giáp, lấy dao thọc vào, miệng hềnh hệch cười, tay móc ra một buồng gan nóng hổi. Một kẻ liếm môi tiếc rẻ nói : «... Chà, phải chi có cút rượu ! »


***
7
Trưa hôm lính Tam Phủ kết thúc được thời lạm quyền của Hoàng Tế Lý và Ðặng Thị Huệ, trời bỗng đột nhiên bừng nắng sau một cơn u ám kéo dài cả tháng. Hàng dân kháo nhau rằng đấy là điềm thái bình. Không hẹn, họ kéo nhau ra chật phố, cứ thấy bóng lính là thi nhau hò reo. Người thổi cơm, kẻ nắm xôi, mang ra giúi vào tay lính. Họ đặt bàn thờ, cắm hương, hăm hở đợi xem Tân Chúa. Không khí giải phóng khỏi những tù túng bốc những giấc mơ đổi đời lên chín tầng mây trắng.

Bằng Vũ vào Vương phủ tìm Trịnh Tông, quì xuống :
- Xin Thế tử ra mắt hàng dân. Trăm họ đang chờ đợi, không phụ lòng họ được.
Lính Tam phủ chia nhau đội Trịnh Tông trên một cái mâm đồng, vừa đi vừa reo hò, cười nói vang vang, hô to nào là « Cách Mạng », nào là « Nông chế », nào là « Ðất trả người cày ». Bàn dân dẫu không hiểu gì cũng vui miệng hô theo. Kinh đô nhộn nhịp hẳn lên, chăng đèn kết hoa và đốt pháo như ngày Tết.

Ngay đêm hôm đó, dân hàng phố mở hội, phường nào cũng chăng đèn, trống cái trống con đánh lên rộn rã. Lính Tam phủ được vồ vập săn đón và nhìn với con mắt đầy ân nghĩa. Mới chỉ ngày trước, lính lạnh lùng, cứ theo lệnh trên như máy mà thi hành, dẫu oán than chi thì cũng mặc. Dân sợ họ, lảng tránh, khép nép, đi ngang thường cúi đầu không dám nhìn. Bây giờ, trái ngược hẳn lại. Người dân mong đợi thay đổi nhìn những người lính vần xoay thế cục một cách hoàn toàn khác hẳn. Vừa được giải tỏa tất cả những uẩn ức thầm lặng trong mười sáu năm trời dưới quyền bính của Chúa Trịnh Sâm, họ ùa ra tỏ niềm hân hoan. A, thì ra lính cũng là bàn dân đấy chứ ! Dân và lính, khác gì nhau ? Trên khắp đường phố, họ cười cười nói nói, chuyện nổ như pháo, ôm vai sát cánh nhau như đi trẩy hội.

Bỏ đằng sau tiếng chiêng tiếng trống, Nhật vào sân Vương phủ. Lính đã lấy xác Lý mang đi bêu đầu ở trước Tây Long cung. Còn lại cái bó chiếu nằm chơ vơ trên thềm Chính-phủ, xác của lão Hài, kẻ lính gọi là Bố-già, mà người ta quên mất trong những giây phút hồ hởi. Ðêm đầu tháng chạp đen kìn kịt. Lính bỏ hết những vọng canh xung quanh dinh thự, đang say sưa túm tụm với nhau. Nhật lẳng lặng ôm xác lão Hài bỏ ngang lên lưng ngựa, rồi chậm rãi dắt đi trên con đường ra đê Yên Phụ. Ðến nghĩa địa gần hạt Nghi Xuân, Nhật lại ôm bó chiếu, đi một quãng tìm chỗ. Nhật rút thuổng ra đào. Ðào hì hục.

Mở bó chiếu ra, mặt lão Hài nhợt nhạt, miệng còn đọng một vệt máu đen. Dưới ánh nến, Nhật lau mặt cho lão, nhớ lại ngày lão đến gặp Nhật, lòng ôm mối lo rằng lính Tam phủ phải đánh giết lẫn nhau. Nhật nhặt nhạnh được dăm cây hương cháy dở trên những ngôi mộ xung quanh. Lấp xong đất, Nhật đốt những nén hương thừa đó, chua xót nhớ mình đã đưa được đội Trung Kính ra ven đô để tránh đi mọi đụng độ giữa lính với lính. Chàng chắp tay cúi đầu, khấn nhỏ : « Tránh được đổ máu rồi, Bố-già ạ ! ». Hình ảnh con voi cuốn lấy lão tung lên không rồi quật xuống lại lởn vởn hiện ra. Tiếng voi lại văng vẳng rống lên đâu đây, rồi tiếng chiêng trống, tiếng Hoàng Tế Lý bị át trong tiếng reo hò quát tháo ào lên như nước vỡ bờ.

Ðấy mệnh người nó thế, nho nhoi, chết đến thật tình cờ, chết vô lý vô nghĩa.
Giá mà không có ngọn kích nào đó phóng vào bụng voi, thì nào lão Hài có vong mạng. Và như thế biết đâu, biết đâu Tế Lý chẳng đã thuyết phục được đám lính Tam phủ cơ nào về đội ấy. Rồi quân Nhưỡng, quân Thạc kéo về. Chắc gì lính Tam phủ bảo vệ được ngôi Chúa cho Trịnh Tông ? Máu đổ. Lại máu đổ ! Cho Tông hay Cán, Cán hay Lý, Lý hay Bằng Vũ, Bật Trực thì có khác gì ? Những kẻ phải đổ máu ra có lẽ thực tình không hiểu vì sao. Như bị trì kéo vào cái cộng nghiệp oan trái, họ không hiểu nhưng vẫn làm. Làm điên cuồng. Làm hối hả. Cứ hệt như khi lên đồng, lú lẫn quay cuồng trong điệu kèn tiếng trống dẫn vào một cõi u mê.
Nhật bỗng ngậm ngùi, rưng rưng nước mắt, nghe loáng thoáng « ... để giết cha sao ?

». Chàng ngẩn ngơ, không hiểu rõ động cơ nào đã khiến chàng chặn đường đào tẩu của Tế Lý, buộc cha chàng phải gánh trách nhiệm trực diện đối đầu với đám kiêu binh. Phải chăng trong tiềm thức đó là cách chàng bắt cha trả giá cho sự trốn tránh cái trách nhiệm đối với cái bào thai bị bỏ rơi ngay trong bụng mẹ và người đàn bà đã trầm mình vào dòng sông Lam lạnh cóngï để rửa nhục ? Toàn Nhật cắn răng, tai lại văng vẳng tiếng thét «...Giết nó cho ta ».
Nhưng sao vẫn có điều gì gần như một niềm ân hận, lênh đênh tựa thủy triều, dâng lên, rồi ùa đến dìm dắm lòng chàng vào một nỗi cô đơn khủng khiếp.
Nhật ôm nấm mộ mới đắp ngủ thiếp cho đến lúc gà gáy sáng.


***
8
Ngày hôm sau, Tông nhận được sắc phong Chúa và vời ngay Nguyễn Khản, thầy dạy học mình đang bị giam ở nhà Quận Châu, về làm Tể Tướng. Dương Khuông, em của Dương Ngọc Hoan và là cậu của Tông, nhậm chức Quyền Phủ Sư. Ðám thủ lãnh lính Tam phủ không mấy ưng lòng, trách Khản xưa là Trấn Thủ Nghệ An đã hà khắc với nhân dân đất « tắm gội ». Họ nói ra miệng : «... Hắn mà thành Tể Tướng thì dân cả nước sẽ bị cướp bóc đến manh quần cũng sẽ chẳng còn ... ». Tông sợ, vội đình ngay việc bổ nhiệm Khản, lúng túng không biết tin vào ai, xin ý của Quốc cửu Viêm Quận công.

Viêm rỉ tai, Tông hiểu ra liền xuống chỉ phong cho Bằng Vũ làm Suy Trung Dực, Vận công thần, tước Hầu. Bọn Trần Nguyên Nhưng, Gia Thọ, Bùi Bật Trực làm Tuyên-lực công thần và theo thứ tự đều lãnh trọng chức. Ðám người nhóm họp ở Khán Sơn được ghi tên vào sổ Trung Nghĩa, cấp những đạo sắc bỏ trống chỗ đề tên người để họ bán cho kẻ khác lấy tiền. Ngoài ra, toàn bộ lính Tam phủ tham gia ở trong hay ngoài Kinh đều được thăng chức một cấp và ban tiền thưởng khắp lượt.

Về phần Toàn Nhật, Tông vời đến Vương phủ để thưởng công nhưng Nhật không nhận gì, xin được trở về trại Bùi Phong. Tông nhất định không nghe, một mực đòi giữ Nhật, lại hỏi :
- Theo ý tướng quân, liệu Phu tử có chịu giúp Tông này không ?
Nhắc lại bữa ăn buổi tối trước vụ án năm Canh Tý đã là cái cớ để Hoàng Tế Lý bắt Thức và o ép Phu tử trong việc phế Tông lập Cán, Tông làm ra vẻ ngậm ngùi, tiếp :
- Nếu Trọng Thức chịu về Kinh để cùng với Tông này hợp sức cùng nhau xây lại đời Nghiêu đời Thuấn thì hay biết mấy. Tướng quân nghĩ thế nào ?
Nhật cười thầm, nhưng chỉ cúi đầu cảm tạ, và cho biết là chẳng ai biết Thức đã trôi giạt về đâu từ ngày trốn khỏi Kinh dăm tháng trước. Tông đưa tay lên trời, điệu bộ như người đóng kịch, thở dài :
- Ô hô, nhân tài như sao buổi sớm ! Cầu trời cho Tông này được những bậc chính nhân phù trợ !

Toàn Nhật khải Chúa về việc Ðặng thị Mai bị Huệ bắt và chỉ xin được phép mang nàng ra khỏi chốn tù ngục. Tông biết rõ chuyện Huệ ép Mai lấy Thái tử Lê duy Cẩn cũng như ý đồ Mai định trốn theoThức, nói dăm câu phủ dụ nhạt nhẽo và ban cho ít tiền thưởng để lấy lòng. Ra khỏi Vương phủ, Toàn Nhật vào thẳng dinh Trịnh Cán tìm Mai. Gia nhân trong dinh lấy khóa mở cái xiềng cửa một căn phòng nằm tuốt phía sau. Mai nằm trên một chiếc trõng tre, mình đắp chiếc chăn đơn. Nàng không hề hay biết gì về những sự cố xảy ra bên ngoài. Thấy Nhật vào, Mai ứa nước mắt.
Những ngày tù ngục vừa qua là đoạn đời cực nhọc nhất của Mai. Sợ bị đánh thuốc để phá cái thai trong bụng, Mai không dám ăn gì, chỉ uống nước cầm chừng gần ba tháng. Sau, có một con mèo đen không biết thế nào mà lọt được vào phòng. Thức ăn bưng vào, Mai để mèo thử trước, một ngày sau không thấy gì bất thường mới dám ăn. Ăn cầm chừng. Lúc nào cũng phấp phỏng. Nhưng vẫn phải ăn để nuôi cái bào thai mỗi lúc một lớn, cựa quậy, chân đạp, tay quào. Mai vuốt ve cái bụng mình, miệng nựng : « Con ơi, cố đi, rồi có lúc thái lai... », nhắm mắt mơ tới ngày phá cũi xổ lồng. Trong những giấc mơ ấy, người đứng phía bên kia chờ Mai là Thức. Chàng mỉm cười, hai tay giơ lên, nói lớn : «Trời có mắt, trời có mắt ...».
Người Mai gầy tọp đến một nửa, mắt sâu hoắm, ngực lép kẹp. Sợ Mai chết, thị nữ đến báo Ðặng thị Huệ. Huệ vào, tay để lên trán Mai, nói giọng như khóc : «Chị đâu có muốn em thế này, sao không chịu làm hoàng hậu mà lại làm con ma không chồng ? Ðã bắt được thằng Thức rồi, hiện bỏ ngục. Nếu em nhất định không chịu lấy Thái tử Cẩn, chắc Tế Lý giết nó thôi. Còn cái thai này, cứ ưng lòng đi, đẻ ra chị sẽ nhận làm con nuôi. Như vậy, thế là cứu cả con lẫn thằng Thức, cho em thêm ít lâu để em suy nghĩ ...».

Mai nghe Thức bị bắt, người điếng đi, lưỡi cứng ra, sợ quá cứ vâng vâng dạ dạ. Khi Huệ đi rồi, Mai ngẫm nghĩ : bất cứ giá nào cũng phải cứu Thức. Vả lại, cái thai mới năm tháng, vậy là còn bốn tháng có thể trì hoãn được. Nàng xin gặp Huệ, gập đầu thưa : «... Từ nay em nghe lời chị. Chỉ xin rằng được gặp Thức một lần, trao đứa con lại cho bố nó, rồi chị đặt đâu em ngồi đó ...». Từ dạo đó, mặc dầu vẫn bị quản thúc, nàng được phép ra khỏi phòng, lẩn quẩn ở Hậu cung nhưng lúc nào cũng có hai thị nữ kèm cặp.
Một trong hai thị nữ tên là Soan, vốn là vợ một cai cơ trong đội Thị-kỵ. Soan thấy cái dây chuyền có đính một viên bích ngọc của Mai cứ trầm trồ, mê mẩn ngắm. Mai thấy thế, nhờ Soan hỏi thăm tin Trọng Thức, nếu có gì đích xác thì bồi tặng sợi dây chuyền. Nửa tháng sau, Soan bảo : «... có bắt được đâu !». Trong lúc ấy, viện Nội Mật tỏa người ra khắp nơi truy nã Thức ngặt nghẽo. Mai mừng quá, vào phòng, nằm khóc rồi lại vuốt bụng mình, nói thầm : «... con ơi, bố con vẫn tự do ». Ðêm hôm ấy Mai mơ thấy một con chim phượng trắng toát tít cao trên mây, cánh chơi vơi bay lên đáp xuống, rồi sà vào nằm ủ lấy thân thể mình.

ý tìm đường thoát thân nhen nhúm như lửa bén vào cây khô trong lòng Mai. Nàng hứa với Soan là tặng hết tài sản nếu Soan giúp nàng. Tháng sau, Soan xin về quê giỗ bố, rồi lén lút quay lại, dẫn Mai ra phía đông vườn Uyển, định trốn ra Cầu Giấy, sau đó lẻn sang bến Thúy Ái tìm thuyền xuôi về Nam Ðịnh. Không may, lính tráng trong đội Hậu Dũng bắt lại cả hai, mang nộp Tế Lý.
Huệ giận quá, bắt vợ chồng Soan đem chém ngay, không hỏi tội trạng gì thêm. Nàng gọi Mai ra, nhìn chằm chặp :
- Mày đối với tao tệ đến thế à ?
Mai chưa dám nói gì thì Huệ bất ngờ quào vào mặt. Móng tay dài như vuốt chim rạch vào má Mai hai vết chạy từ cuối thái dương đến cằm, máu ứa ra nhỏ giọt. Huệ rít lên :
- Ðồ khốn nạn. Mặt mày sẹo thế này, cho mày nhớ đời. Nhan sắc à ? Ðể làm gì ? Cái nhan sắc ấy mà không ra tiền ra quyền thì có hơn gì xấu xí !
Từ đó Mai lại bị bỏ vào phòng, cửa lúc nào cũng xiềng lại. Mai nghiêng người cho Nhật nhìn thấy vết sẹo trên má mình, giọng run rẩy :
- Nhật có biết anh Thức ở đâu không ?
Nhật lắc đầu, kể cho Mai chuyện cấm binh đã lật Lý và Huệ, nhìn vết sẹo rồi hỏi, giọng sắc đanh :
- Chị có định quào lại Huệ thì Nhật xin đưa chị đi ngay !
Mai cười buồn, lắc đầu :
- Thôi, chẳng để làm gì ! Thôi đi, Nhật ạ !
Nhật xếp đặt đưa Mai về quê nội ở Phù Ðổng, hẹn sẽ tìm Thức và báo tin. Mai lúc đó gày gò, bụng chửa vượt mặt, tay xanh xao nắm lấy Nhật, nước mắt giàn giụa. Linh tính thấy một điều gì, nàng bật miệng :
- ... chắc còn lâu, lâu lắm mới lại thấy nhau.


***
(Còn nữa)

Hansy
28-09-2014, 02:22 PM
- Chum vàng biết đi

eYRGAuhDAqE

Hansy
29-09-2014, 12:49 PM
9
Thế quyền nào với bàn dân cũng đều có một thời gian trăng mật. Hệt như vợ chồng mới cưới, hai đằng khám phá lẫn nhau, thử thách giằng co nhau. Ðến cái mực biết nhau rồi thì thôi, tình nghĩa lại nhạt phèo, quay lưng vào với nhau mà ngủ. Co chân lại giả ngủ say, ngáy cho đều là bàn dân. Còn thế quyền, lúc nào cũng chập chờn, chỉ lo không biết lúc nào ngã xuống chân giường. Vì vậy, thế quyền nằm xoạc cẳng ra, tay níu lấy thành giường, và cất dao kéo dưới gối.

Những giấc ngủ như thế bắt đầu ngay khi bọn chỉ huy lính Tam phủ sai đi tìm đám thủ hạ của Lý và Huệ đã lừa bắt những kẻ theo Trịnh Tông trong vụ án Canh Tý mang chém hoặc bỏ ngục. Nếu thời trước người ta còn mang ra định án rồi khu xử theo tội trạng thì ngày nay, lính Tam phủ mau mắn hơn, khỏi bỏ cái công mang ra tra xét cho mệt. Ðối với bọn ác ôn, họ mang ra đường kể tội, rồi để cả giỏ đá sẵn đấy, bàn dân ai thích cứ lấy mà ném cho đến chết. Ðám tội nhẹ hơn, họ để bàn dân đánh đập. Nếu có chút tiền đưa ra, họ thôi. Nếu không có, thì lại đánh đập nữa. Ðánh cho đến khi lòi tiền ra. Không tiền, kẻ bị đánh trở thành ác ôn. Và lại để bàn dân vui vẻ chơi trò ném đá, họ rêu rao : «... chúng là kẻ thù của nhân dân, phải trừng trị xứng đáng ». Triều đình không dám ho he. Nhà Chúa cũng vì nể, nếu có trách thì chỉ dám nói bóng nói gió. Lính Tam phủ đi ngoài chợ, quan lớn quan nhỏ, công hầu khanh tướng gặp họ thường phải né tránh để khỏi bị họ làm nhục trước mắt bàn dân.

Dân Kinh Kỳ gọi lính Tam phủ là Kiêu binh.
Bọn Bằng Vũ, Bật Trực, Nguyên Nhưng và Gia Thọ là những công thần trong thời đại mới. Họ hồ hởi lao mình vào việc triều chính, khiêm nhường tự xưng là đầy tớ nhân dân, đưa ra phương án dẹp Tây Sơn và Chúa Nguyễn ở Ðàng Trong hầu thu đấùt nước về một mối. Bàn dân nhận được lệnh bắt lính lo lắm, nhưng chẳng biết làm gì hơn là tiếu lâm với nhau, nói lái hai chữ chinh chiến ra thành chuyên chế.

Quên khuấy mất việc hứa miễn sưu miễn thuế ba năm cho bàn dân, những kẻ nay cầm quyền bính trong bụng chỉ lo đối phó với bọn sĩ phu cả trong triều lẫn ngoài tam cung ngũ phủ. Ðám quan mới nghĩ cách phân biệt họ với đám quan cũ bằng cách cắt bỏ hai cáng chuồn và đính trên mũ của mình hình một ngôi sao mầu đen. Bàn dân lại có dịp đùa đó là những vì sao sáng giữa ban ngày.

Theo kế của Bùi Bật Trực, lính gốc Thanh-Nghệ đóng ở mọi trấn đều được đặt vào những vị trí quan yếu, giữ thế liên hoàn với lực lượng trấn thủ Thăng Long. Trực hội họp với Bằng Vũ, Nguyên Nhưng và Gia Thọ, hàng ngày theo dõi việc triều đình, thấy gì không vừa lòng là họ hoạnh hoẹ và can thiệp ngay. Bằng Vũ tiếm chức chỉ huy đạo quân Thị Nội, áp đảo cả Chúa lẫn đại thần và tự mình tổ chức lại Nội Mật viện mà không thèm hỏi ý triều đình. Về phần Gia Thọ, hắn cậy thế kiêu binh xen vào việc xét xử cả việc hình lẫn việc hộ, cứ tư riêng với ai là kẻ đó thắng kiện, thay trắng đổi đen tùy ý.

Bật Trực đã thảo sẵn ra hai phương án, gọi là Nông chế và Chiến sách . Ðại để, những phương án này chỉ sao chép lại cổ thư của Thương Ưởng và Hàn Phi, cho rằng cái gốc của xã hội là sức mạnh. Sức mạnh đó chỉ có thể có nếu nông nghiệp phát triển để cho dân giàu; và dân giàu thì mới tạo khả năng xây dựng một lực lượng võ bị hùng hậu. Trực thích nói chữ, đắc chí lặp đi lặp lại lời Hàn Phi : « Lực đa tắc nhân triều, lực quả tắc triều ư nhân; cố minh quân vụ lực », có nghĩa là sức mình mạnh thì người triều phục mình, sức mình yếu thì mình triều phục người, nên bực minh quân cần lo về sức mạnh.

Ðể cai trị, Trực bắt chước Thương Ưởng, đề cao hình pháp, đặt ra năm nhà thành một ngũ, mười thì thành một thập, phải coi chừng lẫn nhau, thấy phạm luật mà không tố cáo thị bị tội chém. Nhưng thế nào là phạm luật ? Ngoài trộm cắp giết người cướp của, Trực cho rằng bất cứ gì, kể cả điều tiếng, biện bác đi ngược lại Nông chế, có tác hại đến quyền lợi và sự nghiệp của con nhà nông là phạm luật. Với một chủ trương chung chung như vậy, Gia Thọ độc quyền diễn dịch khiến cho phép nước trở thành hoàn toàn tùy tiện. Những việc cụ thể ai muốn hiểu thế nào cũng biện minh được. Tệ hơn, muốn bắt tội ai cũng có cách giải thích cho hợp tình hợp lý được. Vì vậy, hình pháp trở thành quốc nạn, và tha hồ bọn nắm quyền nắm thế thao túng để trục lợi, chủ yếu là chiếm nhà chiếm đất làm sở hữu riêng tư.

Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là bệnh lưỡi rụt, một căn bệnh hay lây đến nay vẫn chưa có thuốc chữa. Trong dân gian, không khí nghi kỵ lẫn nhau trở thành một thứ văn hóa mới. Không ai dám nói gì chân thật với ai, thậm chí kể cả với anh em, bố mẹ, con cái. Chỉ ít lâu sau, căn bệnh đó lại biến chứng thành ra tật léo lưỡi. Bàn dân mở mồm thường là nói nước đôi nước ba, không ai hiểu được ai. Sau cái tật này, dân Kinh Kỳ mắc thói vừa thì thào vừa nhìn quanh và nhất là nhìn ra sau lưng. Thói này được Hải Thượng Lãn Ông gọi là hội chứng lạnh gáy,chữa khó nhưng có thể thuyên giảm bằng cách uống rượu đế. Xã hội thành một sân khấu khổng lồ, toàn dân rủ nhau diễn kịch, lặp lại những khẩu hiệu kiểu «Sĩ, Phú, Ðịa, Hào. Ðào tận gốc, trốc tận rễ » hệt những con vẹt tự động. Hai quốc sách là Nông chế và Chiến sách trở thành hai pho kinh thiêng liêng đến độ có những người mang thờ trên bàn thờ tổ như một cách thủ thân và tiến thân dưới chế độ Kiêu Binh.

Bằng Vũ noi gương Lý Tư thời Tần, ra lệnh gom hết sách của Bách Gia Chư Tử, chỉ để dân gian giữ sách về nghề trồng trọt, chăn nuôi, sách thuốc và sách tử vi, bói toán. Thời kiêu binh, lên đồng trở thành phổ biến. Chỉ có người ngồi đồng dựa vào thần thánh là có dịp muốn nói gì cũng được. Tuy thế, phần lớn vẫn sợ, và có nói thì họ chỉ ca thán về những chuyện oan ức và đói khổ. Thần thánh cũng ngại không dám bình phẩm hai quốc sách. Dĩ nhiên, khi đồng xuất để trở lại làm người phàm, không ai còn nhớ gì nữa.


***
10
Dân Kinh Kỳ đã hết hy vọng. Như mọi sinh vật, họ đã bắt đầu thích ứng với cái xã hội mới và tùng phục một nền văn hóa mới. Ðúng lúc đó thì xẩy ra một sự cố nhỏ nhưng cũng đủ khiến cho con người lại mất đi cái quán tính cam chịu số phận. Ở chợ Hôm, đứa con trai đầu lòng một bà bán hoa đã lên sáu mà chưa biết nói. Nó khá bụ bẫm, trắng trẻo, thường cứ giương mắt đen lay láy lên chào mời khách, miệng cười, tay chỉ vào những bông cẩm chướng kẹp trong những tầu lá chuối xanh biếc mầu phí thủy.

Sáng hôm rằm, một tên kiêu binh ghé vào chợ, túm lấy vài bó hoa, bỏ đi không thèm nói một lời. Nó há miệng ú ớ, rồi bật thành tiếng :
- Ðồ ăn cướp !
Tên kiêu binh quay phắt lại, hùng hổ :
- A, ranh con. Thế thì tao lấy cả gánh chứ chẳng phải vài bó.
Thằng bé bỗng đảo người đứng dậy, vươn mình cao lên, rồi cất tiếng hát, giọng lanh lảnh :
- Ới ai ơi, nông chế là nên chống
Chiến sách là ách cổ dân.

Người hàng chợ xôn xao, có kẻ kêu lên là Ðức Thánh đã về. Tên kiêu binh ném mấy bó hoa xuống đất, ba chân bốn cẳng chạy về báo viện Nội Mật. Hàng dân ở đâu bu tới, bày ra hương án, trong khi thằng bé đứng lên trên một chiếc sập, mồm thao thao bất tuyệt những bài cổ thi.

Khi Bằng Vũ đích thân tới nơi, thằng bé đang đọc :
- Vị cải thử độ ( Vẫn chưa đổi hướng ư )
Xa ký phúc nhi mã diên hề(Xe kia đã đổ, ngựa kia đã ngã)
Kiển độc hoài thử dị lộ (Sao cứ bám con đường quaí dị ấy)
Lặc kỳ ký nhi cánh giá hề (Hãy thắng ngựa ký và đổi yên)
Tạo phủ vị ngã tháo chi (Rồi nhờ Tạo phủ cầm cương )

Mặt xanh nhợt, Bằng Vũ mang máng nhớ bài thơ, quát :
- Mi là thánh hay quỉ ? Bài Tư mỹ nhân của Khuất Nguyên làm sao đổi được đời này ! Thánh hay quỉ cũng phải bước xuống ngay !
Thằng bé lại vươn cho cao thêm một trượng, cười ha hả :
- Nông chế là nên chống
Chiến sách là ách cổ dân
Gầm lên như phát điên, Vũ hét :
- Giết nó, giết ngay cho ta...

Ðám kiêu binh nhìn thủ lãnh, ngần ngừ, vẻ sợ sệt không che dấu ai được. Móc tay ném xuống đất thỏi vàng ròng, Vũ cười nhạt :
- Thưởng cho.
Một tên đen đủi, lùn tịt, mồm chề ra những chiếc răng vẩu bám vôi trầu đỏ loét, xông vội ra lao chiếc kích vào ngực thằng bé.

Hàng dân ôm mặt rú lên.
Lạ thay, chiếc kích cắm phập vào chiếc cột gỗ chống chợ, và chỉ có một con vàng anh bay vù lên. Nó đảo một vòng quanh chợ rồi chắp cánh về một chốn tít mù, tiếng kêu lảnh lót vang đến tận tầng mây cao nhất trên đồng bằng sông Nhị.

Cho đến tận bây giờ, mầu vàng của cánh chim xưa thỉnh thoảng lại óng ánh sáng lên ở phía đông thành Thăng Long. Những lúc đó, dẫu chẳng muốn, không mấy ai lại không nghe tiếng chim kêu dục giã.

Nguồn: http://amvc.free.fr/Damvc/Nam%20Dao/GioLua/5KIEUBINH.htm


HẾT

Hansy
30-09-2014, 01:24 AM
67- TRỊNH - NGUYỄN PHÂN TRANH
KỲ 7

fikRgQky9wY

Hansy
01-10-2014, 12:59 AM
http://thethaovietnam.vn/dataimages/201306/original/images698649_quoc_phuc_dan_toc_thethaovietnam2.jpg
Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ


85
Nguyễn-Phúc-Ánh
phục hồi
(1780-1802)

Nguyễn-Phúc-Ánh (324) phục hồi năm Tý
Cho ₫úc ngay ngọc tỷ ₫ể truyền
Niên hiệu cũ vẫn giữ yên
5196- Lấy theo ₫ế hiệu nguyên niên, Lê-triều .

Năm Tân-Sửu (1781) nguyên tiêu vừa hết
Nguyễn-Ánh thề quyết diệt Tây-Sơn
Chiến thuyền, ba vạn quân hơn
5200- Lên ₫ường ra tới Nha-Trang phục thù

Quân chúa Nguyễn mới vừa đưa đến
Bị Tây Sơn khởi chiến ưu tiên
Cả bộ binh lẫn chiến thuyền
5202- Lọt vào thế trận phải liền rút quân .

Qua năm Dần (1782) Tây-Sơn trả lễ
Mấy trăm thuyền vượt bể vào Nam
Cần-Giờ, thuyền chiến xếp hàng
5208- Dưới quyền Nguyễn-Huệ, dọn ₫ường thọc sâu

Quân Nguyễn-Ánh lúc ₫ầu chống trả
Sức yếu dần vội vã rút lui .
Gọi quân Hà-Nghĩa tới nơi
5212- Bị phục kích, chạy tơi bời gian nan .

Dưới tay Huệ, mấy trăm thuyền chiến
Tiến vào trong cửa biển Cần-Giờ
Thủy binh Nguyễn-Ánh thua to
5216- Vội vàng bôn tẩu, vượt bờ ra khơi .

Ánh bôn tẩu ra ngoài Phú-Quốc
Thế Nguyễn triều phút chốc lâm nguy
Cho Hoàng-tử Cảnh (325) ra ₫i (1783)
5220- Qua Tây cầu viện bởi vì thế cô .

Từ Côn-Lôn chạy vô Thổ-Cốt
Rồi Thổ-Châu (326) hoảng hốt qua Xiêm
Nhiều khi ₫ói khát trên thuyền
5224- Nguyễn-vương vẫn giữ vững nguyên ý mình .

Được vua Xiêm (327) vị tình giúp ₫ỡ
Ba trăm thuyền, một số tinh binh
Kéo về Gia-Định tung hoành
5228- Bị quân Nguyễn-Huệ vây quanh phía ngoài .

Ở Rạch Gầm, Huệ sai mai phục
Đưa người vào Xoài Mút ém quân
Chiêu-Sương cùng với Chiêu-Tăng
5232- Trúng ₫òn mai phục, chết gần hết quân .

Nguyễn-Ánh sang ₫ất Xiêm nhờ cậy
Nguyễn-Huệ thì quay lại Quy-Nhơn
Bốn lần vào ₫ánh Sài-Côn
5236- Bốn lần ₫ại thắng, vinh quang bốn lần.


http://image.qdnd.vn/Upload//phucthang/2011/1/8/08012011Tonha02225258249.jpg
http://static.panoramio.com/photos/large/72202016.jpg

Hansy
01-10-2014, 02:10 PM
TRẬN RẠCH GẦM –XOÀI MÚT
(1785)


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a6/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%91%C3%A0i_R%E1%BA%A1ch_G%E1 %BA%A7m-Xo%C3%A0i_M%C3%BAt.JPG

Trận Rạch Gầm-Xoài Mút là một trận đánh lớn trên sông diễn ra vào đêm 19, rạng sáng 20-1-1785 do Quang Trung-Nguyễn Huệ chỉ huy đã giành thắng lợi, phá tan khoảng 2 vạn thủy binh và 300 chiến thuyền của quân Xiêm trên sông Mỹ Tho. Đây là thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc về chính trị và quân sự, đập tan âm mưu và hành động xâm lược của quân Xiêm, đồng thời thể hiện sự hiệp đồng lực lượng, chỉ huy quân sự tài tình của Nguyễn Huệ-Quang Trung.

Nhà Nguyễn sau khi thất bại, dựa vào quân Xiêm vượt biển đánh chiếm Gia Định hòng khôi phục quyền lực, tập trung lực lượng về Trà Tân (Tiền Giang), làm bàn đạp tiến đánh lên Mỹ Tho. Nghĩa quân Tây Sơn vừa chặn đánh quyết liệt vừa rút lui từng bước, bảo toàn lực lượng, làm thất bại âm mưu đánh nhanh của địch, triệt để phát huy sự ủng hộ của nhân dân, làm chậm bước tiến công của kẻ thù; đồng thời lợi dụng mâu thuẫn vốn có trong nội bộ liên quân Xiêm-Nguyễn để chủ động chốt giữ các vị trí hiểm yếu, khiến chúng chủ quan sơ hở.


http://1.bp.blogspot.com/-XftRzgwrg4U/UaJJfI98-aI/AAAAAAAAKSs/lnGP7O2f77A/s1600/B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_tr%E1%BA%ADn_R%E1%BA%A 1ch_G%E1%BA%A7m-Xo%C3%A0i_M%C3%BAt_(1785).jpg
Sơ đồ trận Rạch Gầm-Xoài Mút.

Cuộc hành quân thần tốc vượt biển từ Quy Nhơn hội quân ở Mỹ Tho của Nguyễn Huệ đã nhanh chóng thay đổi tương quan cục diện chiến trường. Liên quân Xiêm-Nguyễn đang trên đà tiến công vũ bão phải dừng lại, phòng ngự ở Trà Tân (Tiền Giang), tạo điều kiện để nghĩa quân Tây Sơn tổ chức thực hành phản công quy mô lớn. Trình độ tổ chức chỉ huy trong chuẩn bị chiến trường thể hiện nghệ thuật quân sự bậc thầy, uyển chuyển, lúc cương lúc nhu, dẫn dụ địch đi vào thế trận đã bày sẵn, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, kéo hút, kích thích, nhử địch ra khỏi căn cứ. Nguyễn Huệ mưu trí giải quyết đồng thời các tình huống cơ bản, khéo léo khiêu khích, kích thích tướng Xiêm tung quân tiến công ào ạt, dụ đội hình của địch vào sâu để đánh trận then chốt, tiêu diệt gọn. Quân Tây Sơn đã xây dựng thế phòng ngự và tiến công chặt chẽ, sử dụng lực lượng chiến thuyền hùng hậu, hỏa lực hải quân áp đảo, bí mật dàn đội hình phục kích, đánh dũng mãnh, hiệp đồng chặt chẽ trên bờ, dưới nước, đánh thẳng chớp nhoáng vào tập đoàn chủ yếu của địch.

Đêm 19, rạng ngày 20-1-1785, đội hình tiến công của địch lọt vào trận địa, lực lượng thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ lao ra, chặn đánh hai đầu, dồn quân địch vào vòng vây. Đại bác từ hai bên bờ sông và trên cù lao Thới Sơn nã đạn vào đoàn thuyền địch đang bị ùn lại. Quân địch hốt hoảng, đội hình rối loạn, lại bị những thuyền nhẹ cháy rừng rực theo dòng nước lao vào những chiến thuyền đang rối loạn, khiến chúng bị chìm, bị cháy. Thừa thắng, các đội thuyền chiến của quân Tây Sơn từ các vị trí mai phục ào ạt cắt ngang đội hình rối loạn của địch, tiêu diệt hết lớp này đến lớp khác. Lực lượng dự bị từ Mỹ Tho cũng kịp thời đến tiếp ứng, thủy bộ phối hợp với nhau, khép chặt vòng vây, công kích quyết liệt. Quân địch bị chia cắt, đội hình tan vỡ, quân lính khiếp sợ yếu ớt chống cự; số bỏ thuyền chạy lên bờ cũng vấp phải trận địa mai phục sẵn của bộ binh, tượng binh và bị tiêu diệt.

Trần Văn Toản

Nguồn: http://nghethuatquansuvn.wordpress.com/2011/04/03/tr%E1%BA%ADn-r%E1%BA%A1ch-g%E1%BA%A7m-xoai-mut/

Hansy
02-10-2014, 12:27 AM
- Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 1


4wEKHQPiEps

Hansy
02-10-2014, 12:36 PM
- Âm vang Rạch Gầm - Xoài Mút

RPiLbClUaPE

Hansy
03-10-2014, 05:24 AM
http://2.bp.blogspot.com/-qYE0ub0l53E/UwMlp1Yc4vI/AAAAAAAAAXI/xMOHW2ZNDRw/s1600/2008091116125502.jpg
Lê Chiêu Thống gọt đầu gióc tóc nhận áo mũ quan giặc Tàu

86
Lê-Chiêu-Thống
(1787 - 1789)

Lê-Duy-Kỳ (332) lên thay ngôi báu
Thái-Tử này là cháu ₫ích tôn
Của vua ₫ời trước Hiển-Tông
5284- Hiệu là Chiêu-Thống, nối dòng họ Lê .

Khi Tây-Sơn rút về ₫ến Huế
Ở Bắc-Thành, Trịnh-Lệ cướp ngôi
Vua Lê, chúa Trịnh tranh oai ,
5288- Vua tôi mâu thuẫn làm ai cũng buồn .

Trịnh-Bồng
(1786-1787)

Trước việc làm tranh phần phủ Chúa
Đinh-Tich-Nhưỡng về phía quận công
Đã ₫ưa Tiết-chế Trịnh-Bồng
5292- Lên ngôi kế vị nối giòng Trịnh-gia .

Nội bộ nhà Tây-Sơn mâu thuẫn
Hai anh em ngầm ngấm chống nhau
Nồi da nỡ xáo thịt sao !
5296- Về sau hưu chiến ₫ào hào phân chia .

Ở kinh sư, vua Lê cầu viện .
Vì Trịnh-Bồng lấn chiếm hết quyền
Vua bèn sai viết thư riêng ,(1786)
5300- Gọi Nguyễn-Hữu-Chỉnh ₫em quân về triều .

Nguyễn-Hữu-Chỉnh (333) bèn ₫iều binh tướng
Đuổi Trịnh-Bồng, Tích-Nhưỡng chạy xa
Quyền uy một cõi sơn hà ,
5304-“Đường trời mở rộng riêng ta một vùng ”

Mới thắng, Chỉnh dương dương tự ₫ắc
Việc triều ₫ình qua mặt nhà vua
Huệ nghe tin ấy lòng ngờ
5308- Nên ₫em quân sĩ phất cờ trừ gian .

Ngô-Văn-Sở (334) lên ₫ường dẹp loạn
Phan-Văn-Lân dẫn toán bộ binh
Cùng quan Tiết-chế khởi hành ,
5312- Hạ-Lôi tập kết ₫ánh thành Thăng-Long .

Chỉnh ₫ưa vua vào vùng Kinh-Bắc
Quân Tây-Sơn xiết chặt vòng vây .
Mục-Sơn nương náu mấy ngày
5316- Về sau bị bắt trói tay giải về

Vũ-Văn-Nhậm (335) sai ₫i thay thế ,(1788) Cũng lộng hành chẳng kể vua quan . Nguyễn-Huệ lại phải lên ₫àng ,
5320- Mười ngày ₫ã tới cửa thành Thăng-Long .

Chém Nhậm xong, ₫ặt Ngô-Văn-Sở
Coi việc quân, trấn ở Đàng Ngoài
Còn Lê-Chiêu-Thống chạy dài ,
5324- Sai Lê-Duy-Đán sang mời quân Thanh .

Trong khi ₫ó, tại thành Gia-Định
Dùng ₫ại binh, Nguyễn-Ánh phản công
Quan quân Nguyễn-Lữ sờn lòng
5328- Di tản chiến thuật theo ₫ường Quy-Nhơn .

Bồ-Đào-Nha cử tân sứ giả
Đem quốc thư vua ₫ã chuẩn y
Năm mươi thuyền chiến cho ₫i ,
5332- Theo lời cầu viện những gì ₫ã xin .

Cho con tin là Hoàng-tử Cảnh (1787)
Theo Bá-Đa (Rhodes) cùng ₫ến Véc-Xay (Versailles)
Nhân danh Nguyễn-Ánh qua ₫ây
5336- Ký xong hiệp ước, xin vay khí tài .

Trong hiệp-ước có hai ₫iều khỏan (336)
Nhường cho Tây ₫ảo cảng Côn-Lôn
Tam-Kỳ, cửa biển Hội An ,
5340- Để thuyền của họ thông thương dễ dàng.

Về phía Pháp sẽ nhường cho Chúa
Bốn chiến thuyền, tiền của, quân lương
Cộng thêm nghìn sáu Lê-Dương
5344- Để thêm lính tráng, quân trang xử dùng .

Các hiệp ước bàn suông trên giấy
Chưa bao giờ ₫ược thấy thực thi
Hạ-Châu, truyền sứ ra ₫i
5348- Mua thêm súng ₫ạn ₫em về bổ sung .

Nguyễn-Phúc-Ánh phán cùng các tướng
Lập thao trường huấn luyện rèn quân
Chủ trương ₫ãi ngộ ₫ương nhân ,
5352- Vỗ về tướng sĩ, ₫e răn loạn thần


http://1.bp.blogspot.com/-kvUJf3PBh6M/UwMlv2xQV8I/AAAAAAAAAXQ/_QHttn4zdCA/s1600/2008091116120965.jpg
Lê Chiêu Thống gọt đầu gióc tóc nhận áo mũ quan giặc Tàu

Hansy
03-10-2014, 01:31 PM
- Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 2

TiWrQazz9yM

Hansy
04-10-2014, 04:47 AM
Quang Trung Đại Đế Nguyễn Huệ
(1753 - 1792)


http://vietnamdefence.com/web/Uploaded/vnd/20091014/QTrung-btts2.jpg
Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ - Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, Bình Định

1. Bước khởi đầu của một sự nghiệp lớn

Nguyễn Huệ sinh năm 1753, có nghĩa là khi tham gia chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, ông còn ở tuổi vị thành niên (Phần lớn các thư tịch cổ và tài liệu dân gian đều nói Nguyễn Huệ là em Nguyễn Nhạc và là anh Nguyễn Lữ. Một vài giáo sĩ nước ngoài có mặt ở nước ta lúc bấy giờ, như Labartette chẳng hạn, thì nói Nguyễn Huệ là em Nguyễn Lữ. Nhưng ghi chép của họ cũng có chỗ tỏ rõ chưa ổn, sức thuyết phục chưa cao

Năm 1771, khi chính thức trở thành một trong ba lãnh tụ cao nhất của Tây Sơn, Nguyễn Huệ vừa tròn 18 tuổi. Trong hàng các bậc danh tướng kiệt xuất nhất của lịch sử nước ta, rất hiếm thấy những trường hợp bắt đầu sự nghiệp sớm như thế.

Trong quá trình chuẩn bị, nếu như Nguyễn Nhạc là người chịu trách nhiệm bao quát chung, Nguyễn Lữ là người gần như chỉ chủ yếu là chuyên lo sản xuất và tích trữ lương thực, thì Nguyên Huệ, ngay từ đầu đã là người trực tiếp cầm quân. Ở Tây Sơn có Hòn Ông Bình, tương truyền đó chính là nơi thuở xưa Nguyễn Huệ huấn luyện binh mã trước khi xuất quân khởi nghĩa (Xem Khởi nghĩa Tây Sơn).

Tài năng quân sự của Nguyễn Huệ lần đầu tiên thể hiện rõ nhất là ở việc vạch kế hoạch và trực tiếp chỉ huy xây dựng một chiến lũy rất dài, nối liền Hòn Ông Nhạc, Hòn Ông Bình với Hòn Lãnh Lương. Đó là chiến lũy nằm án ngữ trục đường qua đèo An Khê, đủ để ngăn chặn những cuộc tấn công của quân đội Chúa Nguyễn lên vùng Tây Sơn Thượng Đạo. Nay chiến lũy do Nguyễn Huệ chỉ huy xây đắp chỉ còn dấu tích một số đoạn ngắn mà thôi.

Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ. Nguyễn Huệ là một trong số những tướng lĩnh cao cấp đầu tiên và ông đã cầm quân xông pha trận mạc như thế cho đến tận phút cuối của cuộc đời mình. Nếu như hình ảnh của Nguyễn Nhạc luôn luôn gắn liền với hình ảnh của con tuấn mã có bộ lông màu trắng tuyệt đẹp, thì hình ảnh của Nguyễn Huệ luôn luôn gắn bó với thanh long đao có cán màu đen.

Ở vùng Tây Sơn, hiện vẫn còn có di tích một ngôi miếu, gọi là Miếu Xà và nhân dân địa phương hiện vẫn còn lưu truyền một sự tích khá ly kỳ như sau: lần đầu tiên xuất quân, Nguyễn Huệ và các tướng rất náo nức. Nhưng đoàn quân vừa rời khỏi căn cứ thì bỗng chựng lại, hàng ngũ phía trước tự dưng rối loạn. Nguyễn Huệ tới để kiểm tra nguyên do thì thấy có hai con rắn đen cực lớn nằm chắn ngang đường, cả hai đền vươn cổ lên, há miệng đỏ như đang ngậm máu. Quân sĩ Tây Sơn cho đó là điềm chẳng lành nên ngần ngại, không dám hăng hái đi tiếp. Nguyễn Huệ lập tức xuống ngựa, cung kính thi lễ và khấn rằng:

- Nay, anh em chúng tôi xuất quân là vì đại nghĩa. Nếu biết trước là sự nghiệp của chúng tôi sẽ thành công thì kính xin Xà Thần (Thần rắn) mở lối cho chúng tôi đi, còn như nếu biết trước được rằng, chúng tôi chỉ uổng công vô ích thì xin Xà Thần hãy trị tội mình tôi mà tha cho hết thảy nghĩa sĩ đều được trở về với gia đình, vợ con.

Không ngờ, Nguyễn Huệ vừa khấn xong thì cả hai con rắn đen cực lớn kia đều quay đầu lại, thoăn thoắt tiến lên phía trước, mở đường cho cả đạo binh cùng đi. Đi được một quãng đường khá xa thì bỗng một con rắn lao nhanh vào bụi rậm và chốc lát sau thì trở ra, miệng ngậm một thanh long đao có cán màu đen, vươn cổ lên “trao” cho Nguyễn Huệ. Đó là thanh long đao cực bén, thế gian không ai có được. Nguyễn Huệ kính cẩn nhận lấy thanh long đao và thề sẽ vì đại nghĩa cứu dân, vì ân huệ của Xà Thần mà chiến đấu đến cùng. Hai con rắn đen nghe Nguyễn Huệ thề xong thì biến mất. Về sau, để tưởng nhớ ơn đức lớn lao của Xà Thần, Nguyễn Huệ đã cho dựng miếu thờ. Miếu ấy lâu ngày đã bị hoang tàn, di tích còn lại chính là Miếu Xà đã nói ở trên.


http://vietnamdefence.com/web/Uploaded/vnd/20091014/QTrung-cn12.jpg
Tượng đài Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ
Thành phố Quy Nhơn

Nguồn: http://vietnamdefence.com/Home/quansuvietnam/danhnhanquansuVN/Quang-Trung-Dai-De-Nguyen-Hue-1753--1792/200910/48777.vnd

Hansy
04-10-2014, 03:57 PM
- Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 3

ZfmCjkQiuFg

Hansy
06-10-2014, 07:16 AM
- ĐÀNG NGOÀI
SAU TRỊNH-NGUYỄN PHÂN TRANH 7

Z066XASxY_0

Hansy
06-10-2014, 08:01 PM
https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQxBbJn93oJMBC5O8yAriZYzVTKSX6NQ VzpXYVFjk9PYgvws2ZF
Quang Trung - Nguyễn Huệ


87
Nguyễn-Huệ Đại Phá Quân Thanh
(1789)

Năm Mậu-Thân, (1788) lúc gần tháng Chạp
Quân nhà Thanh ồ ạt kéo sang .
Hai mươi chín vạn lên ₫ường
5356- Tổng-₫ốc (337) Lưỡng-Quảng tiên phong phất cờ .

Nhiệm bàn kế cùng Ngô-Văn-Sở
Ngầm ₫iều quân ₫ến ở Trường-Yên
Rồi cho cấp báo hiện tình
5360- Về cho Nguyễn-Huệ biết tin tức thời .

Buổi trưa ngày hăm lăm tháng Chạp
Vua Quang-Trung truyền khắp mọi nơi
Rằng : “Giặc Thanh ₫ã tới rồi
5364- Tập trung lực lượng ở ngoài Nam-Quan” .

Núi Ba-Tầng thiết ₫àn làm lễ
Cáo ₫ất trời xin ₫ể lên ngôi
Quang-Trung (338) hiệu triệu mấy lời
5368- Lễ xong hạ lệnh tức thời xuất quân

Nghệ-An sẵn có quân tinh nhuệ
Lấy mười ngàn chưa kể dân binh
Vài trăm voi chiến ₫ăng trình
5372- Chia ra tả hữu năm doanh rõ ràng .

Vua Quang-Trung ₫ương trường ₫ốc trận
Aó hoàng bào liệt lẫm oai phong
Gươm thiêng nạm bạc ₫eo cùng
5376- Trên ₫ầu voi chiến hào hùng ruổi rong .

Sau năm ngày bụi hồng nhuộm áo
Tới Đèo-Ngang, dựng dáo nghỉ chân
Vua cho mở tiệc khao quân (339),
5380- Định ngày mồng Bẩy, khai xuân sẽ vào

Thăng-Long thành, xuân chào năm mới
Nụ hoa ₫ào chớm ₫ợi ₫ông phong
Cành non thấp thoáng búp hồng ,
5384- Mai vàng núp bóng thẹn thùng nắng mai .

Vua Quang-Trung ₫ến ngay Gián-Khẩu (340)
Hành quân qua ₫ánh ₫ạo Sơn-Nam .
Hà-Hồi ở cách trung tâm
5388- Thăng-Long, nhắm hướng phía Nam nửa ngày .

Quân Tây-Sơn bao vây kín mít
Mà giặc Thanh chẳng biết chút gì
Đầu hôm cho ₫ến nửa khuya
5392- Áp vào ₫ồn giặc ₫ợi giờ tấn công .

Sáng mồng năm Quang-Trung ₫ến kịp
Đồn Ngọc-Hồi, tràn nhập quân ta (342)
Trong thành giặc chẳng dám ra .
5396- Chỉ thấy lố nhố hằng hà chông tre .

Vua sai lấy ván che rơm ướt
Cho trăm voi lên trước tấn công
Vượt qua hỏa pháo, gai chông
5400- Dập dồn trống trận xung phong tấn vào .

Xáp lá cà, (342) vượt hào, chiến lũy
Giặc Mãn-Thanh bạt vía kinh hồn
Quân Tây-Sơn tựa sóng cồn
5404- Tòan quân Thanh xác chất chồng thảm thay .

Hứa-Thế-Hanh chết ngay tại trận
Trương-Sĩ-Long cũng chẳng hơn gì
Quân Thanh ₫ại bại ê chề .
5408- Theo ₫ê Yên-Phụ chạy về Đông-Quan .

Giặc Mãn-Thanh tan hàng vỡ mật
Một cánh quân chạy lạc vào ₫ầm
Chết vì ngựa ₫á voi dầm ,
5412- Chết vì ₫ói khát cạn dần binh lương .

Đô-Đốc Long chặn ₫ường lũ giặc
Dùng kị binh vây chặt Đống-Đa (343)
Thâu ₫ồn Khương-Thượng về ta
5416- Giặc Thanh khốn ₫ốn phải ra ₫ầu hàng .

Sầm-Nghi Đống cùng ₫ường nhỏ lệ
Thắt cổ treo ở lũy Nam-Đông
Lính thì tên trúng mạng vong
5420- Chết hơn quá nửa, nửa vòng tù binh .

Nghe ₫ược tin ở thành Khương-Thượng
Đã ₫ầu hàng, binh tướng bị giam
Khiến Tôn-Sĩ-Nghị kinh hoàng
5424- Kéo quân chạy trốn bằng ₫ường cầu phao .

Cánh Vân-Nam vừa vào cửa ải
Nhận ₫ược tin thất bại hoàn toàn
Tổng-₫ốc Lưỡng-Quảng (344) vội vàng
5428- Thu quân tháo chạy theo ₫ường Nam-Quan .

Lê-Chiêu-Thống theo chân Tổng-₫ốc
Cùng tàn quân xâm lược Mãn-Thanh
Chạy về ₫ến ₫ược Yên-Kinh
5432- Lưu vong ₫ến thác, giận mình ngu si .

Từ Trang-Tông ₫ến Lê-Chiêu-Thống (345)
Mười tám ₫ời, tổng cộng hai trăm (1533-1789)
Sáu lăm năm (265) lẻ ₫ủ làm
5436- Triều Lê suy thịnh, nước Nam một giềng .


http://d4.violet.vn/uploads/blogs/447/quang_trung_dai_pha_quan_thanh_picture1_500.png

Hansy
07-10-2014, 06:16 AM
- Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 4

OOxXwwYGyA8

Hansy
09-10-2014, 01:01 AM
QUANG TRUNG - NGUYỄN HUỆ

http://vietnamdefence.com/web/Uploaded/vnd/20091014/QTrung-cd1.jpg

2.
Tổng chỉ huy xuất sắc trận Phú Yên (năm 1775, năm 22 tuổi), tạo ra bước ngoặt quan trọng cho toàn bộ quá trình phát triển mạnh mẽ sau đó của phong trào Tây Sơn

Năm 1774, lợi dụng lúc Chúa Nguyễn đang phải lúng túng đối phó với hàng loạt những cuộc tấn công của Tây Sơn, Chúa Trịnh lúc bấy giờ là Trịnh Sâm đã sai Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc đem 3 vạn quân tiến thẳng vào Đàng Trong và chẳng bao lâu sau, Hoàng Ngũ Phúc đã chiếm được thủ phủ của Chúa Nguyễn. Toàn bộ tập đoàn họ Nguyễn phải tháo chạy vào Gia Định. Tuy nhiên, cũng kể từ đó, Tây Sơn bị đẩy vào thế “lưỡng đầu thọ địch”. Ở mặt Bắc, quân Hoàng Ngũ Phúc bắt đầu vượt đèo Hải Vân. Ở mặt Nam, quân Nguyễn cũng phản công dữ dội. Trước sự xoay chuyển đột ngột và phức tạp của tình hình như vậy,Tây Sơn đã quyết định tạm thời hòa hoãn với quân Trịnh. Mặt Bắc tạm yên, nhưng mặt Nam vẫn rất căng thẳng.

Năm 1775, hơn 2 vạn quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy đã ồ ạt đánh từ phía Nam đánh ra. Một dải đất rộng lớn và liên hoàn, tương ứng với các tỉnh ngày nay như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắc Lắc... mới được Tây Sơn giải phóng đã bị Tống Phúc Hiệp chiếm lại. Tống Phúc Hiệp còn đánh ra tận Phú Yên, tình hình trở nên rất nguy cấp. Tây Sơn chỉ còn giữ được một vùng đất tương ứng với các tỉnh ngày nay như Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai nữa mà thôi.
Tống Phúc Hiệp đặt đại bản doanh ngay tại Phú Yên và lập 2 đại đồn, một ở Xuân Đài (cách Phú Yên chừng 4 km) và một ở Vũng Lấm (cách Phú Yên chừng 10 km). Nếu Xuân Đài là đại đồn của lực lượng bộ binh hùng hậu thì Vũng Lấm chính là đại đồn của lực lượng thủy binh cũng rất đáng gờm. Xuân Đài và Vũng Lấm là hai khu vực xuất phát, cũng là hai địa điểm tập kết rất lợi hại của Tống Phúc Hiệp. Thế đứng của Tống Phúc Hiệp được khẳng định khá vững vàng.

Trong khi khí thế quân Nguyễn đang được dần dần phục hồi thì ngược lại, phía Tây Sơn gặp không ít khó khăn. Ngoài việc đất đai bị thu hẹp, Bộ chỉ huy Tây Sơn cũng có sự tổn thất và xáo trộn. Bấy giờ, tướng Tập Đình đã bỏ trốn, còn tướng Lý Tài thì liên tiếp bị thua đau mấy trận liền, vì thế, hoang mang và uy thế giảm sút rất nhanh. Muốn đánh bại Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên, Bộ chỉ huy Tây Sơn không thể trao trọng trách chỉ huy chiến dịch cho tướng Lý Tài được nữa. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Huệ đã dũng cảm đảm trách sứ mệnh tổng chỉ huy chiến dịch này. Bấy giờ, Nguyễn Huệ vừa tròn 22 tuổi, nhưng, vị tướng rất trẻ này từng là người chỉ huy luyện tập quân sĩ trong thời kỳ Tây Sơn chuẩn bị khởi nghĩa, và quan trọng hơn, từng là tướng trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc 4 năm trời. Tài năng bẩm sinh cộng với những kinh nghiệm thực tiễn quý giá đã tạo cho Nguyễn Huệ một bản lĩnh rất cao cường.

Để tạo yếu tố bất ngờ, trước lúc mở màn trận tấn công, Nguyễn Huệ đã cho người đến gặp Tống Phúc Hiệp để bàn hai việc lớn, một là tôn lập Nguyễn Phúc Dương (tức Hoàng Tôn Dương) lên làm Chúa và hai là kế hoạch phối hợp giữa Tây Sơn và Tống Phúc Hiệp trong việc chống lại quân Trịnh! Cuộc thương lượng giữa đại diện của Tây Sơn với Tống Phúc Hiệp đang tiến hành thì quân của Nguyễn Huệ tràn tới. Chỉ trong chớp nhoáng, thành Phú Yên bị hạ. Tống Phúc Hiệp phải bỏ thành Phú Yên chạy thục mạng. Tướng của Tống Phúc Hiệp là Nguyễn Văn Hiển ra sức chống trả đã bị giết ngay tại trận. Một viên tướng nữa của Tống Phúc Hiệp là Nguyễn Khoa Kiên bị Nguyễn Huệ bắt sống. Bộ binh của Tống Phúc Hiệp ở Xuân Đài vội vã tháo chạy khiến cho thủy binh ở Vũng Lấm cũng hốt hoảng rút ngay về phía Nam.

Tin Nguyễn Huệ thắng lớn ở Phú Yên nhanh chóng truyền vào Nam. Tướng của Chúa Nguyễn giữ chức Trấn thủ tại Bình Khang là Bùi Công Kế (Đại Nam liệt truyện, Tiền biên, quyển 4) cùng với thuộc tướng là Tống Văn Khôi lập tức đem quân đi cứu, nhưng vừa đến nơi, chưa kịp bày binh bố trận đã bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tành. Tống Văn Khôi bị giết tại trận, Bùi Công Kế phải lập tức rút hẳn về Bình Khang (một khu vực hành chính địa phương thời các Chúa Nguyễn. Khu vực này trong khoảng từ năm 1775-1790 có nhiều thay đổi. Khi Bùi Công Kế làm Trấn thủ, Bình Khang chỉ tương ứng với Khánh Hòa và một phần Đắc Lắc ngày nay).



Trận Phú Yên là trận có ý nghĩa rất quan trọng. Từ đây, quân đội Chúa Nguyễn liên tiếp bị đại bại để rồi cuối cùng là bị đánh bật khỏi Gia Định. Từ đây, tên tuổi của Nguyễn Huệ nổi bật hẳn lên, tài năng quân sự của Nguyễn Huệ ngày một nở rộ.
Sau trận Phú Yên, theo yêu cầu của Nguyễn Nhạc, Hoàng Ngũ Phúc đã phải xin Chúa Trịnh là Trịnh Sâm phong cho Nguyễn Huệ chức Tây Sơn Hiệu, Tiên phong Tướng quân. Cũng sau trận Phú Yên, Nguyễn Huệ được lệnh ra ổn định tình hình Quảng Nam. Bấy giờ, Hoàng Ngũ Phúc rút quân khỏi vùng Quảng Nam, ra hẳn phía Bắc đèo Hải Vân, tuy nhiên, tay chân của Chúa Nguyễn ở vùng này cũng nhân đó mà nổi dậy chống Tây Sơn. Hai nhân vật nổi bật của đám tay chân này là Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân. Chỉ trong một trận đánh chớp nhoáng, Nguyễn Huệ đã quét sạch lực lượng của Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân ra khỏi Quảng Nam. Toàn bộ vùng đất từ Quảng Nam vào đến Phú Yên do Tây Sơn quản lý, nhìn chung là ổn định. Ở tuổi 22, Nguyễn Huệ không phải chỉ là một vị tướng có tài mà còn là một người rất giàu năng lực tổ chức quản lý hành chính. Tóm lại, Nguyễn Huệ bắt đầu trở thành linh hồn của Tây Sơn kể từ đây.


http://vietnamdefence.com/web/Uploaded/vnd/20091014/QTrung-cn10.jpg

Hansy
09-10-2014, 04:33 PM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 5

L9vbBXhdQM

Hansy
10-10-2014, 12:35 PM
http://tragiavemaybay.com/sites/default/files/anh_4_2.jpg

88
Quang-Trung Hoàng-Đế
(1788-1792)

Ngày mồng Bẩy tháng giêng Kỷ-Dậu (1789)
Giữa kinh thành còn dấu chiến tranh (346)
Đống-Đa ₫ầy xác quân Thanh
5440- Đường in vó ngựa, trên thành cờ bay .

Tiết Khai-Hạ, vua bày trước trận
Lễ ăn mừng chiến thắng Mãn-Thanh
Aó bào thuốc súng bám quanh
5444- Trên mình bạch mã long lanh giáp vàng .

Thăng-Long thành, pháo vang, hội mở
Một nụ ₫ào mới nở ₫êm qua
Nhà vua ngắt một cành hoa (347)
5448- Gửi về công chúa nơi xa ₫ang chờ .

Trời Phú-Xuân mừng thơ ₫ại thắng
Thêm cành ₫ào chút nắng tình yêu
Ngọc-Hân có biết bao ₫iều
5452- Mừng vui cho bõ những chiều ₫ợi mong .

Vua yết bảng an dân, tha mạng
Quan quân Thanh thực bụng ₫ầu hàng
Kinh thành, ₫ền miếu sửa sang
5456- Giao cho Lân, Sở liệu toan mọi ₫iều .

Ngô-Thời-Nhiệm ₫ứng ₫ầu chính trị
Phan-Huy-Ích phụng chỉ ngoại giao (348)
Sứ Thanh thù tiếp ra vào
5460- Bình thường quan hệ với Tầu cho yên .

Vua Càn-Long muốn xem Nguyễn-Huệ
Tiếp phái ₫oàn trọng thể sứ Nam
Cho Phạm-Công-Trị giả làm (349)
5464- Thay mình ₫ến lễ vấn an vua Tầu .

Vũ-Văn-Dũng lần sau ₫i sứ
Sang Thanh triều giả bộ cầu thân
Xin miền Lưỡng-Quảng hồi môn
5468- Hai bên thương thuyết hãy còn chưa xong .

Sau chiến thắng vô cùng vĩ ₫ại
Vua Quang-Trung trở lại Phú-Xuân
Khẩn hoang, ban chiếu khuyến cần
5472- Mở trường dạy học ₫ưa dân về làng .

Mở thi, Nguyễn-Thiếp làm chủ khảo (350)
Trọng chữ Nôm từ dạo bấy giờ
Bỏ sưu, giảm thuế, hầu cho
5476- Nhân dân bớt khổ, bớt lo phần nào ...

”Thiên Hạ, thẻ bài trao : Đại Tín” (1790)
Cho công dân tuổi ₫ến trưởng thành
Thu mua ₫ồng thép vào doanh
5480- Đúc ra vũ khí, giáp binh, chiến thuyền .

Sai ₫úc tiền “Quang-Trung Thông Bảo
Lại lập kho chứa gạo thặng dư
Lục tìm sách cổ tàng thư
5484- Khắc in Sử-Ký, Tứ-Thư lưu hành .

Viện Sùng-Chính (351) thuộc ngành giáo dục
Cho nhân tài dịch sách Hán Nôm
Di tích văn hóa bảo tồn
5488- Vua truyền Nguyễn-Thiếp kiêm luôn viện này .

Ông Nguyễn-Thiếp, nhân tài hiếm có
Chẳng ngại công, ₫ã bỏ nhiều năm
Chuyển từ Hán ngữ ra Nôm
5492- Tứ -Thư, Ấu-Học, bao gồm Ngũ-Kinh .

Triều Quang-Trung, tinh anh chẳng ít
Thời-Nhiệm, Phan-Huy-Ích, La-Sơn
Đến nay trước tác vẫn còn
5496- Góp phần di sản, nét son sau này .

Nguyễn-Thế-Lịch (352) là thầy thuốc giỏi
Tìm nhiều phương chữa khỏi cho dân
Đẩy lui bệnh dịch tràn lan
5500- Trong năm Đinh-Dậu (1777) Quan Ôn hoành hành .

Ở Đàng Ngoài, nổi danh y trưởng
Người này tên Hải-Thượng Lãn-Ông
Thuốc Nam, Kinh, Mạch làu thông
5504- Tim ra nền tảng y tông lâu dài .

Nguyễn-Gia-Thiều, biệt tài thơ phú
Sáng tác bằng cả chữ Hán, Nôm
Đến nay sách vẫn hãy còn ,
5508- Cung-Oán Ngâm Khúc, nỗi buồn tần phi

Ở Đàng Trong, từ khi quay lại
Nguyễn-Ánh liền canh cải cơ binh
Chia quân còn lại năm doanh
5512- Đặt quan Điền-Trấn, bốn dinh từ rầy .

Thành Gia-Định khởi xây kiểu khác
Một vành ₫ai bát giác chung quanh
Kiến-Phương, Kim-Ấn, Gác Mành
5516- Đất xưa, Gia-Định ₫ổi thành kinh sư .

Khu ₫ịnh cư trở nên trù phú
Cấp cho dân dụng cụ làm nông
Chọn tay nghề giỏi thủ công
5520- Những người tinh xảo ₫ược phong tước hàm .

Cho thuyền buôn ngoại bang giảm thuế
Thóc giống cho cốt ₫ể khuyền nông
Để khuyến khích giới thương nhân
5524- Tự do mua bán tăng phần thuế quan .

Giặc nhiễu nhương tràn lan miền Bắc
Miến-Điện riêng muốn ₫ặt bang giao
Trịnh-Cao, Quy-Hợp cùng nhau (353)
5528- Cùng quân Vạn-Tượng ₫ánh vào Nghệ-An .

Trần-Quang-Diệu ₫em quân vào trước
Tiến sâu vào ₫ất nước “muôn voi”
Đuổi quân Vạn-Tượng chạy dài .
5532- Tận cùng biên giới mới lui trở về .

Thuở bấy giờ phân chia ranh giới
Triều Tây-Sơn mãi tới Quy-Nhơn
Phương Nam, Nguyễn-Ánh hãy còn (354),
5536- Xây thành Gia-Định ₫ể làm kinh ₫ô .

Năm Canh-Tuất, tướng Hồ-Văn-Tự (355)
Dẫn chín nghìn thủy bộ quân binh
Nha-Phân mở trận giao tranh
5540- Nguyễn vương thất thế, Long-Thành rút lui .

Trước tình trạng dầu sôi lửa bỏng
Quân Nguyễn vương bất ₫ộng chờ thời
Lựa khi dịp tốt tới nơi ,
5544- Tung trăm thuyền chiến ₫ánh rồi rút ngay .

Vua Quang-Trung (403) ₫em hai vạn lính
Chuẩn bị vào Gia-Định tảo thanh .
Hịch truyền ₫ến các trấn doanh
5548- Quy-Nhơn, Quảng-Ngãi, các thành Đàng Trong .

Đặt kế hoạch ngoại trung liên kết
Đối với Tầu, lễ yết cầu hôn
Miền Nam, Nguyễn-Ánh không còn
5552- Quốc gia Đại-Việt nước non lẫy lừng .

Nhưng tiếc thay, nửa ₫ường vắn số
Vua Quang-Trung dứt bỏ ra ₫i .
Lìa trần một giấc ngàn thu ,
5556- Trăm năm còn lại những gì nữa ₫ây !

Ngọc-Hân ôm ₫ắng cay thảm thiết .
Mối hận sầu tử biệt nào nguôi .
Khóc chồng ướt ₫ẫm tóc mai ,
5560- Mực mài lệ máu. viết lời bi thương .

“Ai-Tư-Vãn” một chương tuyệt tác
Viết thương chồng quặn thắt niềm ₫au
Ái ân sao vội qua mau ,
5564- Hương yêu còn ₫ọng cành ₫ào Nhật-Tân .



http://media.tinmoi.vn/2013/08/13/nhochamju.jpg

Hansy
11-10-2014, 04:52 AM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 6

vDGU5KZDWUU

Hansy
11-10-2014, 06:12 PM
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ

http://cdn9.truongsahoangsa.info/files/2013/02/luoc_do_tay_son_khoi_chong_cac_the_luc_phong_kien_ va_chong_quan_xam_luoc.jpg

3.
Tổng chỉ huy cuộc tấn công của quân Tây Sơn vào Gia Định lần thứ hai (năm 1777, năm 24 tuổi), hai nhân vật cao nhất của tập đoàn họ Nguyễn ở Đàng Trong là Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương đều bị giết

Năm 1776, khi Nguyễn Huệ đang lo trấn áp bọn tay chân của Chúa Nguyễn ở Quảng Nam và xây dựng chính quyền Tây Sơn ở vùng này, thì Nguyễn Lữ được lệnh đem quân tấn công vào Gia Định. Với Tây Sơn, đó là lần tấn công vào Gia Định thứ nhất. Nguyễn Lữ đã chiếm được thành Gia Định, thậm chí còn cho quân đánh xuống tận Long Hồ (khu vực tương ứng với vùng Vĩnh Long ngày nay), đuổi Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải chạy về trốn ở Trấn Biên (một khu vực hành chính lớn bấy giờ, tương ứng với các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương và Bình Phước ngày nay. Nguyễn Phúc Thuần trốn ở vùng Bà Rịa ngày nay), bắt sống được tướng của Chúa Nguyễn là Bùi Hữu Lễ... nhưng, sau đó thì rút về Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Thuần lại mộ quân đánh chiếm Gia Định như cũ.
Bấy giờ, Tây Sơn có thêm một trở ngại mới. Hai tướng gốc thương nhân người Hoa là Tập Đình (chỉ huy đạo Trung Nghĩa quân) và Lý Tài (chỉ huy đạo Hòa Nghĩa quân) đều phản bội Tây Sơn. Trước đó, Tập Đình đã bỏ trốn, còn Lý Tài thì do nhiều phen bại trận, tinh thần và năng lực sa sút nghiêm trọng, cho nên trong trận Phú Yên, Lý Tài chỉ được giao làm phó tướng cho Nguyễn Huệ. Thay vì quyết chí lập công để sửa chữa sai lầm, Lý Tài đã tỏ ra bất mãn. Tướng của Chúa Nguyễn ở Phú Yên là Tống Phúc Hiệp biết rất rõ điều này nên đã chiêu hàng được Lý Tài (Đại Nam liệt truyện, Tiền biên, quyển 3). Trong Bộ chỉ huy Tây Sơn, vị trí của Lý Tài tuy không phải là lớn lao gì, nhưng, Lý Tài là một trong những người nắm được khá rõ sở trường, sở đoản của quân đội Tây Sơn, vì thế, tác hại của sự phản bội này cũng không phải là nhỏ.
Về phía Chúa Nguyễn, nội bộ cũng có những xung đột rất phức tạp. Tháng 6 năm 1776, sau khi tháo chạy từ Phú Yên trở về, Tống Phúc Hiệp lâm bệnh rồi mất. Cuộc tranh giành địa vị chi phối quân đội Chúa Nguyễn, giữa một bên là Lý Tài với một bên là Đỗ Thanh Nhơn bất đầu. Lý Tài tuy chỉ mới về đầu hàng, nhưng lực lượng quân lính mà Lý Tài nắm được cũng khá lớn. Tháng 10 năm 1776, Nguyễn Phúc Dương cũng trốn về (Trước tháng 10 năm 1776, Nguyễn Phúc Dương bị Tây Sơn quản thúc tại Quy Nhơn) được ở Gia Định và dùng Lý Tài làm vây cánh cho mình. Cộng thêm số quân lính tùy tùng của Nguyễn Phúc Dương nữa, thanh thế của Lý Tài tăng lên rất nhanh. Đỗ Thanh Nhơn tự nhận là người không chịu đội trời chung với Tây Sơn. Đội quân do Đỗ Thanh Nhơn lập ra mang tên là Đông Sơn, theo cách giải thích của chính Đỗ Thanh Nhơn, cũng chỉ cốt để tỏ cái chí đối nghịch sâu sắc với Tây Sơn mà thôi.
Khi Lý Tài đem quân về Gia Định, Đỗ Thanh Nhơn buộc phải bỏ Gia Định mà chạy về Ba Giồng (tức Tam Phụ, nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Nguyễn Phúc Thuần bị Lý Tài bắt được và sau đó lại bị Lý Tài ép phải nhường ngôi cho Nguyễn Phúc Dương. Bởi lẽ này, xứ Đàng Trong từ đây có đến hai chúa, một là Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và hai là Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương. Lý Tài được phong làm Bảo giá Đại tướng quân. Cuộc xung đột nội bộ này đã làm cho thế và lực của tập đoàn họ Nguyễn bị suy giảm khá mạnh (Tuy trên danh nghĩa, Nguyễn Phúc Thuần là Thái Thượng Vương và Nguyễn Phúc Dương là Tân Chính Vương, nhưng trong thực tế, hai nhân vật này mâu thuẫn rất sâu sắc với nhau).
Lúc này, tình hình Quảng Nam đã tạm ổn, Bộ chỉ huy Tây Sơn quyết định cử Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định. Tháng 3 năm Đinh Dậu (1777), đại binh Tây Sơn do Nguyễn Huệ cầm đầu, chia làm hai đạo cùng tiến. Đạo thủy binh là đạo quân chủ lực, do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, vượt miền duyên hải khu vực Nam Trung Bộ ngày nay, đánh thẳng vào cửa Cần Giờ, sau đó, tấn công vào các đơn vị quân đội Chúa Nguyễn đóng ở chung quanh thành Gia Định. Đạo bộ binh nhỏ hơn, gồm chủ yếu là các đơn vị Tây Sơn đang đóng tại Phú Yên, có nhiệm vụ đánh mạnh vào khu vực tương ứng với các tỉnh ngày nay như Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, rồi tiến thẳng vào Gia Định.
Để đối phó với cuộc tấn công của lực lượng thủy bộ Tây sơn, tập đoàn họ Nguyễn quyết định phải chủ động vạch kế hoạch phòng ngự và khi thời cơ đến thì kiên quyết tổ chức phản công. Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương tự mình làm tướng, đem một đạo quân khá lớn đến Trấn Biên để sẵn sàng chặn đứng lực lượng bộ binh của Tây Sơn. Lý Tài cùng với Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần chỉ huy quân sĩ giữ vững thành Gia Định để khi thủy binh Tây Sơn đã mệt mỏi với trận đánh thành cam go thì sẽ tung quân ra đánh trận quyết định. Các tướng cầm quân đóng giữ ở các địa phương thì phải chuẩn bị trong tư thế có thể đi ứng cứu bất cứ lúc nào. Xét về phương diện lý thuyết, đây là một kế hoạch đối phó rất chắc chắn, khả năng thành công cũng rất cao. Tuy nhiên, điều mà tập đoàn họ Nguyễn không lường trước được là tài chỉ huy vừa táo bạo, thần tốc lại vừa biến hóa lạ lùng của Nguyễn Huệ. Diễn biến của trận đánh vì thế mà rất gọn gàng.
Trước hết, thủy binh do Nguyễn Huệ trực tiếp cầm đầu đã đánh thẳng một mạch từ Cần Giờ lên Gia Định và chẳng mấy chốc thì thành Gia Định thất thủ, Lý Tài phải bỏ cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần mà chạy về Hóc Môn.
Đạo quân do Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương chỉ huy, mới giáp chiến với Tây Sơn mấy trận ở Trấn Biên đã tỏ ra khó bề chống đỡ. Nguyễn Phúc Dương rút về Gia Định, tưởng để tăng cường sức mạnh cho Lý Tài, nhưng đến nơi thì Lý Tài đã bại trận, Nguyễn Phúc Dương phải cùng Nguyễn Phúc Thuần chạy ra Hóc Môn với Lý Tài.
Sau khi chiếm được thành Gia Định, Nguyễn Huệ cho một đạo quân ra Hóc Môn để truy kích Lý Tài đến cùng, Lý Tài đang điên cuồng chống trả và tình thế chiến trận đang ở lúc rất gay go thì một viên tướng của Chúa Nguyễn là Trương Phúc Thận đem quân tới cứu: Lý Tài lầm tưởng đó là quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn, nên đã vội vã tháo chạy. Trương Phúc Thận tự thấy không đủ sức để đối địch với Tây Sơn, bèn dẫn Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương về Tranh Giang (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
Quân tan, lực kiệt... không còn con đường nào khác, Lý Tài phải chạy về Ba Giồng là khu vực đóng quân của Đỗ Thanh Nhơn. Cơ hội trả thù của Đỗ Thanh Nhơn đã đến. Nhơn cho quân đánh úp, bắt sống Lý Tài đem về giết đi. Cuộc xung đột giữa Đỗ Thanh Nhơn với Lý Tài đến đó là chấm dứt và mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn họ Nguyễn cũng nhờ đó mà giảm dần. Bấy giờ, trong tôn thất họ Nguyễn có một nhân vật rất trẻ nhưng cũng rất đáng gờm là Nguyễn Ánh. Lúc này, Nguyễn Ánh đang dựa vào Đỗ Thanh Nhơn, khiến cho thế lực của Đỗ Thanh Nhơn phát triển rất nhanh. Tại Tranh Giang, tập đoàn họ Nguyễn quyết định một kế hoạch đối phó mới, theo đó thì:
- Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và tướng Trương Phúc Thận chỉ huy lực lượng đóng tại Tranh Giang.
- Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần chỉ huy lực lượng đóng tại Tài Phụ (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
- Nguyễn Ánh và Đỗ Thanh Nhơn chỉ huy lực lượng đóng tại Giá Khê (nay thuộc tỉnh Kiên Giang).
Ba cánh quân, ba vị trí, thủy bộ cùng phối hợp, sẵn sàng giao tranh với Tây Sơn và ứng cứu cho nhau khi cần... Một lần nữa, xét về mặt lý thuyết, đây quả thật là kế hoạch rất chặt chẽ. Nhưng, cũng một lần nữa, kế hoạch của tập đoàn họ Nguyễn bị Nguyễn Huệ đập tan.

Thủy quân Tây Sơn do đích thân Nguyễn Huệ cầm đầu đã đồng thời tấn công vào cả Tranh Giang và Tài Phụ. Chỉ với một trận, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và Trương Phúc Thận đã đại bại, phải bỏ Tranh Giang chạy về Ba Việt (nay thuộc Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre). Cũng chỉ với một trận, Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần đã phải bỏ Tài Phụ mà chạy về Long Hưng (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) rồi sau đó chạy về Cần Thơ. Thấy tình hình quá nguy cấp, tướng Đỗ Thanh Nhơn được lệnh lên đường quay trở ra vùng Bình Thuận để tìm cánh quân của Châu Văn Tiếp đang ẩn náu tại đây. Gặp Đỗ Thanh Nhơn, Châu Văn Tiếp lập tức cùng thuộc tướng là Trần Văn Thức đem quân đi gấp vào Gia Định để ứng cứu. Nhưng Châu Văn Tiếp chưa kịp đến Trấn Biên thì đã bị đánh cho tơi bời, tướng Trần Văn Thức bị giết tại trận (Đại Nam liệt truyện, Tiền biên, quyển 5) còn Châu Văn Tiếp thì may mắn thoát chết.
Tại Ba Việt, Nguyễn Huệ cho quân kết hợp bao vây với tấn công tiêu diệt. Các tướng thân tín của Tân Chính Vương như Tôn Thất Chí, Nguyễn Mẫn và Tống Phước Hựu đều bị giết. Trong thế quẫn bách, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương định phá vòng vây chạy trốn. Nhưng ý định đó đã bị tan thành mây khói. Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và 18 tướng lĩnh tùy tùng bị bắt sống, sau đó bị đưa về xử tử tại Gia Định vào tháng 8 năm 1777 (Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12).
Tại Cần Thơ, nghe tin Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương bị bắt, Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần hoảng sợ, định theo kế của Mạc Thiên Tứ tìm đường chạy sang tạm lánh nạn ở Trung Quốc. Nhưng, khi đang chờ tàu ở Long Xuyên, Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần cùng với toàn bộ tướng lĩnh đi theo hộ giá như Trương Phúc Thận, Nguyễn Danh Khoáng, Nguyễn Phúc Đồng (anh ruột của Nguyễn Ánh)... đều bị bắt sống và đến tháng 9 năm 1777 thì bị xử tử tại Gia Định. Bấy giờ, tôn thất họ Nguyễn chỉ còn có Nguyễn Ánh là trốn thoát được (Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12; Đại Nam liệt truyện, Tiền biên và Chính biên sơ tập).
Với cuộc tấn công vào Gia Định lần này, Nguyễn Huệ đã làm sụp đổ hoàn toàn cơ đồ thống trị của họ Nguyễn được tạo lập trước đó hơn 200 năm, thực hiện thắng lợi trọn vẹn mục tiêu lớn nhất của Tây Sơn đặt ra trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa. Cũng với cuộc tấn công dũng mãnh này, Nguyễn Huệ đã giải phóng được một vùng đất rộng lớn, nhanh chóng tăng cường sức người và sức của, khiến Tây Sơn có thể vững vàng bước vào những trận chiến đấu mới, lớn hơn và quyết liệt hơn.
Đến đây, thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ bước vào thời kỳ nở rộ, phong phú và xuất sắc lạ thường. Các tướng lĩnh của họ Nguyễn xem ra đềukhông đáng là đối thủ của Nguyễn Huệ.
Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, Nguyễn Huệ nhờ những công lao xuất sắc trong hơn 7 năm chiến đấu, đặc biệt là ở trận Phú Yên (1775) và trận Gia Định (1777) nên đã được phong làm Long Nhương Tướng quân.


http://tayson.binhdinh.gov.vn/upload/images/DiTichLichSu/baotangquangtrung1.jpg

Hansy
12-10-2014, 12:43 AM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 7

MCiKQYa3TVA

Hansy
12-10-2014, 11:22 PM
-ĐÀNG NGOÀI - TRỊNH CƯƠNG

LMayXEme1Ps

Hansy
13-10-2014, 10:55 AM
http://img.blog.zdn.vn/11053855.jpg


AI TƯ VÃN

Công chúa Ngọc-Hân
khóc vua Quang-Trung

Than rằng:

Chín từng ngọc sáng bóng Trung Tinh, ngoài muôn nước vừa cùng trông vẻ thụy
Một phút mây che vừng Thái-Bạch, trong sáu cung, thoắt ₫ã lạc hơi hương .

Tơ ₫ứt tấm lòng ly biệt
Châu sa giọt lệ cương thường

Song thế ₫ã trót ₫à về Hán
hội hỗn ₫ồng chi cách trở một phương


Nhớ phen bến Nhị thuận buồm, hội bái việt chín châu lừng lẫy
Vừa buổi cầu Ngân sẵn nhịp, ₫ọan ỷ la ₫ôi nước rõ ràng

Hôn cấu ₫ã nên nghĩa cả
Quan san bao quản dặm trường

Nhờ lượng trên cũng muốn tôn Châu, tình thân hiếu ₫ã ngăn chia ₫ôi nước
Song thế ₫ã trót ₫à về Hán, hội hỗn ₫ồng chi cách trở một phương

Lòng ₫au xót thấy cơn cách chánh
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương

Thành Xuân theo ngọn long-kỳ, ₫ạo tề trị gần nghe tiếng ngọc .
Cung Hữu rạng mầu ₫ịch phất, tình ái ân muôn ₫ội nhà vàng .

Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ
Nề nếp xưa nhờ che chở trăm ₫ường

Ơn sâu nhuần gội cỏ cây, chốn lăng tẩm chẳng phạm chồi du tử .
Lòng nặng thơm tho hương khói, cơi miếu ₫ường nào khuyết lẻ cương thường

Mọi nỗi mọi nhờ trọn vẹn
Một ₫iều một ₫ược vẻ vang

Phép hằng gia, hạc thược, tước hoa, buồng quế rạng khuôn nội tắc
Điềm sớm ứng, chung tư, lân chỉ, phái lam thêm diễn thiên hoàng
Gót ₫ầu ₫ều trọn ơn sang

Đền Vị-Ương, bóng ₫uốc bừng bừng, lòng cần miễn, vừa khi gióng giả
Miền Cực-Lạc, xe mây vùn vụt, duyên hảo cầu, sao bỗng dở dang

Ôi ! Gió lạnh buồng ₫ào, rơi cầm nẩy sắt
Sương pha cung ₫ỏ, hoen phấn mờ gương

Tiệc vầy vui nhớ hãy rành rành, dịp ca múa bỗng khuây chừng Thần-ngự
Buổi chầu chực tưởng còng phảng phất, chuông ₫iểm hồi sao vắng tiếng Cảnh-dương
Vấn ví mấy ! bẩy năm kết phát
Đau ₫ớn thay ! trăm nỗi ₫oạn trường

Hé nhà sương, ngắm quyển cung châm, tiếng chi phất hãy mơ màng trên gối
Nương hiên nguyệt, ngẫm lời ₫ình chỉ, bóng thủy hoa còn nhấp nhoáng bên tường .

Hang núi cũng phàn nàn ₫òi chốn
Cỏ hoa ₫ều sùi sụt mấy hàng

Liều trâm thoa, mong theo chốn chân du, da tóc trăm thân nào có kể
Ôm cưỡng bảo, luống ngập ngừng di thể, mãng hài ₫ôi chút lại thêm thương .

Tiếc thay !

Ngày thoi thấm thoắt
Bóng khích vội vàng

Nếp hoàng tuyền xa cách mấy trùng, nỗi ngao ngánthêm ngừng cơn biệt duệ
Thuyền ngự tỏa ngang ghềnh Thát-Thủy, bánh long xa thẳng chỉ chốn tiên hương

Chén hoàng thủy kính dâng một lễ
Xét soi xin thấu cõi dương gian


http://soi.today/wp-content/images/2010/06/ly-hung-cot-dien.jpg

Hansy
13-10-2014, 07:56 PM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 8

4dq185JcHCE

Hansy
14-10-2014, 01:52 AM
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ


http://static.panoramio.com/photos/large/35149315.jpg

4.
Cùng với Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc, chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ tư (năm 1782, năm 29 tuổi), đánh cho Nguyễn Ánh đại bại


Sau khi hoàn thành xuất sắc cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ hai, Nguyễn Huệ trở về Quy Nhơn, giao vùng đất mới được giải phóng cho một số tướng lĩnh quản lý. Nhân cơ hội đó, Nguyễn Ánh và bè lũ lập tức nổi lên. Đất Gia Định chẳng mấy chốc đã bị Nguyễn Ánh chiếm lại. Lực lượng Tây Sơn ở Gia Định không sao chống đỡ nổi, đành phải cấp báo về Quy Nhơn. Do chỗ nhận định rằng Nguyễn Ánh chỉ là một kẻ tuổi đời còn quá trẻ, năng lực chỉ huy và uy tín cũng chưa cao, cho nên, Tây Sơn chỉ cử hai viên tướng là Tổng đốc Chu (chưa rõ họ là gì) và Hộ giá Phạm Ngạn, đem hai đạo quân thủy bộ nhỏ đi cứu nguy cho Gia Định. Sau sáu tháng hành quân vất vả, Tổng đốc Chu và Hộ giá Phạm Ngạn mới tiến được đến vùng Biên Hòa ngày nay. Các tướng của Tây Sơn chẳng những không cản nổi những cuộc phản công của Nguyễn Ánh mà còn bị đánh bật khỏi Gia Định, sau đó lại còn bị đánh bật khỏi Bình Thuận. Tình hình phía Nam trở nên rất nguy cấp.
Tại Gia Định, lực lượng của Nguyễn Ánh được tăng cường rất nhanh. Đầu năm 1781, Nguyễn Ánh đã có khoảng 3 vạn quân thủy bộ (Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12). Bấy giờ, sát cánh bên cạnh Nguyễn Ánh còn có năm tàu chiến với đầy đủ thủy thủ và vũ khí của phương Tây do viên sĩ quan người Pháp là Manuel chỉ huy (Lorenzo Pérez. Les Espagnols dans l’Empire d’Annam.-Paris 1812; Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12) cũng chép tương tự). Từ Gia Định, Nguyễn Ánh liên tiếp chủ động tổ chức những cuộc tấn công vào Tây Sơn. Đã có lúc, quân Nguyễn Ánh tiến tới tận khu vực gần thành phố Nha Trang ngày nay.
Tháng ba năm Nhâm Dần (1782), Bộ chỉ huy Tây Sơn quyết định đưa đại quân vào Nam để đánh gục toàn bộ lực lượng của quân Nguyễn. Bởi tính chất đặc biệt quan trọng của trận đánh này, đích thân hai lãnh tụ của Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy. Tương tự như ba lần trước, lần này, Tây Sơn cũng huy động cả bộ binh lẫn thủy binh, trong đó, thủy binh là lực lượng nòng cốt (Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí (Quyển 3) và Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 12)1). Về phần mình, Nguyễn Ánh do đã biết được quyết tâm của Tây Sơn nên đã chủ động bố trí trận địa để đón đánh.
Tại Cần Giờ, thủy binh của Nguyễn Ánh do tướng Tống Phước Thiêm chỉ huy, có khoảng 400 chiến thuyền (chưa kể 5 tàu chiến của phương Tây do Manuel cầm đầu), chuẩn bị thế trận sẵn ở khu vực sông Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang) với hy vọng chặn đứng thủy quân Tây Sơn để rồi sau đó là tùy cơ mà tổ chức phản công (Lorenzo Pérez. Les Espagnols dans l’Empire d’Annam.-Paris 1812, T.1, P. 89). Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn sắp sẵn một đội chiến thuyền khác do đích thân Nguyễn Ánh chỉ huy, có thể đến ứng cứu cho Tống Phước Thiêm bất cứ lúc nào (Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, Quyển 3; Đại Nam thực lục, Tiền biên)cũng chép tương tự). Bộ binh của Nguyễn Ánh thì tập trung chủ yếu ở khu vực thành Gia Định. Nơi đây, hệ thống đồn lũy được tu bổ cẩn thận, khả năng phòng thủ rất cao (Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, Quyển 3).
Về phần Tây Sơn, trận đánh quyết liệt đầu tiên là trận sông Ngã Bảy ở Cần Giờ. Trận này do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy. Nhân lúc thuận chiều gió, Nguyễn Huệ đã cho dùng hỏa công (De la Bissachère. État actuel du Tonkin, de la Cochinchine et des royaumes de Cambodge, Lao et Lạc Thổ.-Paris, 1812, T.1, P. 319. Theo De la Bissachère và theo ghi chép của một số giáo sĩ phương Tây khác, phép hỏa công trong thủy chiến của Tây Sơn khá đặc biệt, đại để thì Tây Sơn dùng ống đựng chất dễ cháy, gặp chiến thuyền của đối phương thì châm lửa phóng vào. Chất này khi rơi xuống nước, nếu đã bén lửa thì vẫn có thể cháy, cho nên, dùng nước để chống là không có hiệu quả), khiến cho thủy quân Tống Phước Thiêm hoàn toàn bị bất ngờ về cách đánh, đội ngũ rối loạn, chẳng mấy chốc đã bị đại bại. Nguyễn Ánh tới cứu cũng không sao có thể xoay chuyển được tình thế, đành tháo chạy thục mạng. Tàu chiến của Manuel bị vây chặt và sau đó bị thiêu trụi, Manuel chịu chết cháy.
Tàn binh của Nguyễn Ánh và Tống Phước Thiêm chạy về Gia Định, kết hợp với lực lượng bộ binh đang đóng tại đây để tính kế chống trả. Ở Gia Định, Nguyễn Ánh có ba căn cứ rất vững chắc. Một là thành Gia Định, hai là đồn Bến Nghé và ba là đồn Thị Nghè. Trong thế chân vạc lợi hại này, Bến Nghé và Thị Nghè giữ vai trò yểm trợ rất đắc lực cho thành Gia Định. Cả thành lẫn đồn đều được xây dựng rất kiên cố. Bấy giờ, thân cây dừa được dùng làm kè đỡ, súng lớn cũng không dễ gì phá hủy được. Nhưng chỉ trong một trận giáp chiến, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy cũng đã đánh bật được Nguyễn Ánh ra khỏi ba căn cứ kiên cố nói trên. Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Giồng. Tại đây, chưa kịp củng cố đội ngũ để đối phó thì tin bại trận cứ liên tiếp chuyển về và quân Tây Sơn cũng đang ồ ạt tiến tới cho nên, Nguyễn Ánh lại phải tháo chạy. Lần này, Nguyễn Ánh chỉ còn lại đúng 150 người (Lorenzo Pérez. Les Espagnols dans l’Empire d’Annam.-Paris 1812) bỏ Ba Giồng, băng qua Hậu Giang, sang cả Chân Lạp, lòng vòng bôn tẩu khắp nơi.
Trong khi một bộ phận quan trọng của Tây Sơn đang lo truy kích Nguyễn Ánh thì một bộ phận khác của Tây Sơn lo đối phó với những đám tàn quân khác của Nguyễn Ánh. Bấy giờ, các tướng của Nguyễn Ánh như Tôn Thất Dụ, Trần Xuân Trạch, Trần Công Chương... từ Bình Thuận cũng vội đem quân vào Gia Định. Sau các tướng nói trên, đến lượt Châu Văn Tiếp hùng hổ mang quân tới. Một trận ác chiến đã xảy ra tại khu vực cầu Tham Lương (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 3 và quyển 4), Hộ giá Phạm Ngạn của Tây Sơn bị tử trận, nhưng phía đối phương, tướng Hồ Công Siêu cũng bị giết chết. Thấy không thể chống đỡ nổi, lực lượng của Nguyễn Ánh do các tướng nói trên chỉ huy đã buộc phải rút lui, tìm chỗ náu mình ở đất Bình Thuận như trước đó (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 3 và quyển 4).).


http://vietnamdefence.com/web/Uploaded/vnd/20091014/QTrung-v3.jpg

Mùa hè năm 1782, thấy tình hình Gia Định đã tương đối ổn, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ rút quân về Quy Nhơn, chỉ để lại tướng Đỗ Nhàn Trập cùng 3000 quân ở lại trông coi Gia Định nữa mà thôi.
Trận tấn công vào Gia Định năm 1782 là trận đầu tiên Nguyễn Huệ chỉ huy quân đội đánh vào thế trận đã bày bố sẵn của đối phương, cả ở dưới nước lẫn trên bộ. Xét từ mọi phương diện khác nhau, thế trận của Nguyễn Ánh là thế trận rất vững chắc. Bên cạnh lực lượng khá hùng hậu của mình, Nguyễn Ánh còn được sự hỗ trợ đắc lực của các chiến thuyền phương Tây. Số lượng các chiến thuyền phương Tây tuy không nhiều, nhưng, vị trí và ảnh hưởng đối với chiến trận lại rất lớn. Nếu Tây Sơn phải hành quân xa từ hàng trăm cây số tới, thì ngược lại, Nguyễn Ánh gần như chỉ sắp đặt mọi việc tại chỗ. Tóm lại là về lý thuyết, khả năng giành phần thắng của Nguyễn Ánh cao hơn. Nhưng, thực tiễn sinh động của cuộc tấn công năm 1782 cho thấy Nguyễn Huệ đã làm được những việc ngỡ như không thể làm. Nghệ thuật đánh nhanh, thắng nhanh được Nguyễn Huệ thực hiện với một trình độ rất cao. Các tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc của Nguyễn Ánh, rồi cả đến bản thân Nguyễn Ánh phải kinh ngạc và hoảng sợ đã đành, ngay những sĩ quan chỉ huy chiến thuyền người phương Tây như Manuel cũng phải bó tay chịu chết. Chỗ dựa chủ yếu của Nguyễn Huệ không phải là vũ khí hay điều kiện thuận lợi của thời tiết và địa hình, mà trước hết và cao nhất vẫn là con người. Nếu nắm được thế mạnh riêng của từng tướng lĩnh, của từng đạo quân và sử dụng được, phát huy cao độ được những thế mạnh riêng đó, thì nhất định sẽ nắm phần thắng trong tay.
Trong cuộc tấn công vào Gia Định năm 1782 này, bên cạnh Nguyễn Huệ, Bộ chỉ huy quân Tây Sơn còn có một nhân vật rất quan trọng khác, đó là Nguyễn Nhạc. Với cương vị là Hoàng đế, hẳn nhiên, tiếng nói của Nguyễn Nhạc có ý nghĩa quyết định. Nhưng xét diễn biến cụ thể của toàn bộ cuộc tấn công, vai trò của Nguyễn Huệ luôn luôn nổi lên hàng đầu. Những trận giáp chiến quan trọng nhất diễn ra tại sông Ngã Bảy, tại thành Gia Định, đồn Bến Nghé, đồn Thị Nghè và tại khu vực Tiền Giang ngày nay đều do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy. Sử cũ thực sự có lý khi hầu như chỉ nhắc riêng tên Nguyễn Huệ trong đoạn chép về năm này.



http://cms.kienthuc.net.vn/static/images/contents/maianh/20130404/ktt_5-4_quangtrung1_kienthuc.jpg

Hansy
14-10-2014, 06:01 AM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 8

4dq185JcHCE

Hansy
15-10-2014, 08:58 PM
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ


http://www.namquoc.com/tranhvietsu/QuangTrungDaiPhaQuanThanh-500.jpg

5.
Tổng chỉ huy lực lượng Tây Sơn tấn công vào Gia Định lần thứ năm (năm 1783, năm 30 tuổi), đuổi tập đoàn Nguyễn Ánh ra khỏi bờ cõi

Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ vừa rút về Quy Nhơn thì lập tức, tình hình Gia Định biến đổi nhanh chóng, theo chiều hướng ngày càng bất lợi cho Tây Sơn. Trước hết, tại Long Hồ, một viên tướng của Nguyễn Ánh là Hồ Văn Lân đã tập hợp được một số quân lính, bất ngờ tấn công và chiếm lại được Long Hồ. Ngay sau chiến thắng này của Hồ Văn Lân, các tướng khác của Nguyễn Ánh như Dương Công Trừng và Nguyễn Văn Quý cũng đem quân về Long Hồ để hỗ trợ Hồ Văn Lân, khiến cho thanh thế của lực lượng ủng hộ Nguyễn Ánh ở đây tăng lên rất nhanh. Từ Long Hồ, một loạt những trận phản công lớn nhỏ được tổ chức. Quân Tây Sơn dẫu rất cố gắng vẫn không sao chống đỡ nổi, bỏ thành, bỏ đất mà chạy. Vùng đất đại để tương ứng với Long An ngày nay trở về Nam, dần dần nằm trong tay của nhóm tướng lĩnh Hồ Văn Lân (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 13. Hồ Văn Lân người huyện Kiến Đăng, nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Tin này chẳng mấy chốc đã vang đi khắp nơi.
Tại Bình Thuận, Châu Văn Tiếp cũng nhân thấy quân đội Tây Sơn ở Gia Định lúng túng, bèn tới tấp đánh vào Nam. Lần này, Châu Văn Tiếp có vẻ rất tự tin, giương cao ngọn cờ Lương sơn tá quốc (Quân giỏi ở núi rừng lo giúp nước) mà tiến. Bấy giờ, quân Tây Sơn ở Gia Định do Đỗ Nhàn Trập chỉ huy chỉ có 3000 người mà phải phân tán đi đóng giữ tại nhiều đồn lũy khác nhau, vì thế khả năng chống đỡ ở từng đồn lũy rất thấp. Châu Văn Tiếp cùng các tướng dưới quyền như Tôn Thất Mân, Phạm Văn Sĩ, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Long, Phan Viện... chia quân dồn dập đánh vào Gia Định (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 6). Đỗ Nhàn Trập không sao cầm cự nổi, đành phải tháo chạy về Quy Nhơn.
Cũng có thể nói Đỗ Nhàn Trập đã sai lầm khi dàn mỏng lực lượng vốn dĩ rất khiêm nhường của mình trên nhiều địa bàn khác nhau, tuy nhiên, ở một góc độ khác, chúng ta lại cũng có thể nói rằng Đỗ Nhàn Trập thật khó mà chọn lựa cho mình một phương pháp nào khác. Sai lầm của tướng Đỗ Nhàn Trập chừng như lại bắt đầu từ sai lầm của Bộ chỉ huy Tây Sơn khi đánh giá về vị trí của đất Gia Định. Tây Sơn đã tập trung quân quá đông ở những nơi không phải là vị trí chiến lược quan trọng. Nguyễn Ánh và tướng lĩnh dưới quyền đã triệt để lợi dụng sơ hở này và do đó đã dễ dàng chiếm lại Gia Định sau những phen đại bại thảm hại đến độ ngỡ như khó mà ngóc đầu lên được nữa.
Tại Gia Định, một lần nữa, Nguyễn Ánh lại gấp rút xây dựng hệ thống đồn lũy trên cả một tuyến dài từ vùng đại để tương ứng với Long An về cho đến thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Đồn lũy cũ được tu bổ và tôn tạo. Thành lũy mới được xây đắp. Bộ binh và thủy binh liên lạc chặt chẽ và sẵn sàng ứng cứu cho nhau. Khí thế của tập đoàn Nguyễn Ánh lại một lần nữa trở nên rất hưng thịnh.
Đứng trước tình hình đó, Bộ chỉ huy Tây Sơn lại quyết định tổ chức cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm. Lần này, quân Tây Sơn đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Lực lượng tham chiến của Tây Sơn gồm chủ yếu là thủy binh. Tháng 2 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ bắt đầu cho quân rời Quy Nhơn tiến vào Nam, mở đầu cuộc tấn công lớn vào Nguyễn Ánh.
Cuộc giáp chiến đầu tiên diễn ra tại Cần Giờ. Cũng như tất cả các trận trước, Nguyễn Huệ đã triệt để lợi dụng thủy triều và gió, khiến cho sức mạnh của thủy binh Tây Sơn được nhân lên gấp bội. Chỉ trong một trận chớp nhoáng, phòng tuyến kiên cố của Nguyễn Ánh tại Cần Giờ bị phá toang. Ngay sau đó, Nguyễn Huệ chia quân làm hai đạo, đánh từ hai hướng khác nhau. Đạo thứ nhất tiến xuống Thảo Câu (Vàm Cỏ), giao cho Đô đốc Lê Văn Kế chỉ huy. Đạo thứ hai đánh thẳng vào Gia Định, giao cho Tư khấu Nguyễn Văn Kim chỉ huy. Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chịu trách nhiệm điều khiển chung.
Tại Thảo Câu, thủy quân Nguyễn Ánh đã chuẩn bị sẵn một trận hỏa công rất lợi hại. Nhưng theo đúng lời dặn của Nguyễn Huệ, Đô đốc Lê Văn Kế chờ cho đến lúc thủy triều lên nhanh và gió bắt đầu thuận chiều mới đánh. Lửa hỏa công của quân Nguyễn Ánh, thay vì nhằm thiêu cháy chiến thuyền của Tây Sơn, đã thiêu cháy ngay chính chiến thuyền của mình. Đô đốc Lê Văn Kế nhân đó đã thúc quân đánh tới tấp. Lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh ở Thảo Câu nhanh chóng bị tan rã. Tướng chỉ huy quân Nguyễn ở Thảo Câu là Dương Công Trừng bị bắt, toàn bộ quân sĩ của Nguyễn Ánh đóng tại đây đều phải xin hàng (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 13). Bộ sử này cho biết Dương Công Trừng bị bắt trước sau tổng cộng hai lần và đến lần thứ hai thì bị giết.
Tại Gia Định, số phận của lực lượng quân Nguyễn cũng bi đát không kém. Tướng chỉ huy quân Nguyễn ở đây là Tôn Thất Mân cùng hàng loạt thuộc tướng và quân sĩ phải chịu chết.
Sau hai trận đại bại nói trên, Nguyễn Ánh buộc phải bỏ Gia Định, dắt díu thân nhân chạy trốn. Bấy giờ, Nguyễn Ánh chỉ còn độ dăm sáu tướng cùng với khoảng 100 quân sĩ tùy tùng nữa mà thôi. Nhưng chỉ mấy ngày sau, đám tàn quân của Nguyễn Ánh đã tập trung ở Ba Giồng và lại tính kế để đánh trả Tây Sơn.
Quyết không cho Nguyễn Ánh kịp ra tay, Nguyễn Huệ đã trực tiếp cầm quân tới đánh. Lần này, Nguyễn Huệ cho cả tượng binh tham chiến. Một lần nữa, Nguyễn Ánh đại bại, các tướng như Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Kim Phẩm đều bị bắt, Nguyễn Đình Thuyên, Nguyễn Văn Quý, Trần Đại Huề... thì bị giết tại trận... (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 7 và quyển 13).
Từ đây, một cuộc truy đuổi ráo riết của quân Tây Sơn đối với Nguyễn Ánh bắt đầu. Nguyễn Ánh phải bôn tẩu khắp nơi và chịu thêm nhiều thiệt hại nặng nề nữa. Đại lược như sau:
- Sau nhiều ngày chạy lòng vòng trong khu vực thuộc Tiền Giang ngày nay, Nguyễn Ánh thấy không thể bám lại được, bèn chạy ra cửa biển Ba Thắc để tìm gặp Bá Đa Lộc. Nhưng trước đó Bá Đa Lộc đã đến Mạc Bắc (nay thuộc tỉnh Trà Vinh), cùng với giáo sĩ Liot, giáo sĩ Castuera và giáo sĩ Ginestar chạy trốn. Tám ngày sau, Nguyễn Ánh cũng đuổi kịp nhưng các giáo sĩ nói trên không dám ở chung với Nguyễn Ánh vì sợ bị liên lụy nên lại trốn đi nơi khác.
- Nguyễn Ánh hoảng hốt chạy ra Hà Tiên rồi sau đó là nương thân tại đảo Phú Quốc. Tướng Phan Tiến Thận được Nguyễn Huệ sai cầm quân đi truy kích. Trong trận giáp chiến tại Phú Quốc, một loạt các tướng của Nguyễn Ánh như Tôn Thất Cốc, Tôn Thất Điến (tức là Tôn Thất Chương), Chưởng Cơ Hoảng (chưa rõ họ)... (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 4). Các bộ sách khác như Gia Định thành thông chícủa Trịnh Hoài Đức và Đại Nam thực lục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn cũng chép tương tự) bị bắt. Nguyễn Ánh may được Lê Phúc Điển đổi áo để đánh lừa quân Tây Sơn mới thoát chết mà chạy trốn được.
- Sau khi được Lê Phúc Điển đổi áo, Nguyễn Ánh chạy ra đảo Cổ Long, nhưng chưa hoàn hồn đã bị tướng của Tây Sơn là Trương Văn Đa đem quân tới truy đuổi. Khi ấy, bỗng dưng gió bão nổi lên, Trương Văn Đa không thể tiếp tục cuộc truy quét, còn tàn quân của Nguyễn Ánh thì liều chết vượt cả gió bão, chạy về đảo Cổ Cốt và sau đó lại về đảo Phú Quốc.
- Tại Phú Quốc, do bị tuyệt lương, tàn quân Nguyễn Ánh lại quyết chí đi tìm nơi nương thân khác. Chẳng dè, vừa xuất đầu lộ diện đã bị quân Tây Sơn vây đánh tới tấp. Không còn con đường nào khác, Nguyễn Ánh phải chạy thẳng ra ngoài khơi, lênh đênh trên biển bảy ngày bảy đêm mới lui về được Phú Quốc.
- Thấy Phú Quốc không phải là đất dung thân, Nguyễn Ánh lại bí mật quay về Long Xuyên, nhưng chưa đến được Long Xuyên đã bị tướng của Nguyễn Huệ là Nguyễn Hóa chặn đánh quyết liệt. Nguyễn Ánh chạy ra Hòn Chông và sau đó lại chạy đến đảo Thổ Châu, cách đất liền những hơn 200 cây số. Cuối cùng, Nguyễn Ánh đã chạy sang cầu cứu Xiêm La.
Đến đây, những nhiệm vụ chính yếu đặt ra cho cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm đã hoàn thành. Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ rút quân về Quy Nhơn, việc coi giữ đất Gia Định được giao cho tướng Trương Văn Đa đảm trách. Đánh giá về Nguyễn Huệ trong và sau cuộc tấn công này, một học giả phương Tây là Legrand de la Liraye viết:
“Bằng việc giải phóng đất Gia Định, Long Nhương Tướng quân (chỉ Nguyễn Huệ - NKT) đã hoàn toàn làm chủ được cả xứ Đàng Trong. Ông không phải chỉ là tướng giỏi cầm quân mà còn là một nhà chính trị xuất sắc, tức là khác hẳn với những vị tướng mà trước đó Nguyễn Nhạc đã cử vào. Ông nắm được cả vùng Gia Định trong tay bằng những đồn lũy nằm án ngữ khắp các nẻo thủy bộ với một kỷ luật nghiêm minh và một lòng nhân từ với nhân dân” (Legrand de la Liraye. Notes historiques sur la nation annamite. Sài Gòn. 1865, P. 95).
Thực tiễn sinh động của cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm đã chứng tỏ rằng, Nguyễn Huệ là người vừa rất có tài quyết đoán lại vừa biết triệt để tận dụng những yếu tố thuận lợi của thời tiết và chế độ thủy văn, khiến cho cả thế và lực của quân đội Tây Sơn trong từng trận đánh cụ thể được tăng lên gấp bội. Do liên tiếp bị đại bại thảm hại, trong bước đường cùng, Nguyễn Ánh đã chạy sang cầu cứu Xiêm La, tức là đã đi từ chỗ hại dân đến chỗ phản quốc.



https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcT0oXLWZYz1VuM6PsQZcbgZG_gJqTtcN GrmEKILGqJVbJ1jOiWSPw

Hansy
18-10-2014, 04:30 AM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 8

4dq185JcHCE

Hansy
19-10-2014, 03:04 PM
http://thethaovietnam.vn/dataimages/201306/original/images701171_gia_long_thethaovietnam_2.jpg
Nguyễn Huệ - Nguyễn Ánh

89
Nguyễn-Cảnh-Thịnh
(1792-1802)

Vua Quang-Trung mãn phần quá trẻ
Việc triều ₫ình không kẻ ₫ảm ₫ương
Tham lam một lũ, tầm thường
5568- Thái-sư, giám quốc bất lương ngu ₫ần .

Nguyễn-Quang-Toản (356) mới tròn mười tuổi
Thế ngôi cha vào buổi ₫âu thu
Hiệu là Cảnh-Thịnh bấy giờ
5572- Bùi-Đắc-Tuyên, (357) chức Thái sư ₫ương triều

Từ trong thành như ngoài nội các
Bọn quần thần ra sức tranh nhau
Triều ₫ình vua lại phó giao
5576- Vào tay kẻ xấu sàm tâu hại hiền .

Năm Quý-Sửu (1793) Phú-Yên bị chiếm
Nguyễn-Ánh ₫iều binh ₫ánh Quy-Nhơn
Nhạc xin cầu viện Phú-Xuân
5580- Toản cho Văn-Sở ₫em quân cứu thành

Quân Tây-Sơn ₫ại binh vừa ₫ến
Lượng thế mình, chúa Nguyễn rút ngay
Mặc Ngô-Văn-Sở ra tay
5584- Thư binh, ₫ồ giáp cho người kiểm kê .

Phe Quang-Toản thu về vũ khí
Lấy binh phù ấn chỉ của vua
Trung-Ương Hoàng Đế chịu thua
5588- Quyền hành mất hết sống thừa mà thôi .

Vua Nguyễn-Nhạc ₫ến hồi thất thế
Giận cháu mình huyết thổ chết ngay
Giậu ₫ổ bìm mọc lên thay
5592- Hổ sinh con thỏ, sử rày còn ghi .

Tây-Sơn ₫ổ kể từ khi ₫ó
Cả triều ₫ình một lũ tham ô
Trong khi chúa Nguyễn mưu ₫ồ
5596- Dàn quân tiến ₫ánh tóm thu dần dần .

Năm Giáp-Dần (1794) quân hơn bốn vạn
Nguyễn Tây-Sơn chiếm trấn Phú-Yên (358)
Chu-Lai, cứ ₫iểm giữa miền
5600- Chặn ₫ường tiếp viện luôn luôn công thành .


http://www.thuvienlichsu.com/uploads/images/20140328031812000000-luocdocancutayson.jpg
Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn

Hansy
19-10-2014, 04:13 PM
-Truyện Cổ Tích Việt Nam - Tập 9

gbtpKhEO58Y