PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Thơ dịch - Trần Thị Thanh Liêm



TRẦN THỊ THANH LIÊM
24-05-2014, 02:10 AM
Thơ Cao Bá Quát



薄暮思家

高伯适

城上凍雲千里陰,
梁園花柳瞙沉沉。
高堂兩處思兒淚,
薄宦三春感舊心。
對榻貧妻烹北茗,
敲門小女弄南音。
邦家有道知何用?
一病蹉跎歲自深。

Bạc mộ tư gia

Cao Bá Quát

Thành thượng đống vân thiên lý âm,
Lương viên hoa liễu mạc trầm trầm.
Cao đường lưỡng xứ tư nhi lệ,
Bạc hoạn tam xuân cảm cựu tâm.
Đối tháp bần thê phanh bắc mính,
Xao môn tiểu nữ lộng nam âm.
Bang gia hữu đạo tri hà dụng?
Nhất bệnh tha đà tuế tự thâm

Dịch nghĩa:

Chiều hôm nhớ nhà

Mây lạnh trên thành che rợp ngàn dặm

Hoa liễu vườn bên cầu mong manh rủ xuống

Hai chốn cha mẹ tuôn lệ nhớ con.

Chức quan nhỏ bạc bẽo làm cảm thương lòng mong mỏi của cha mẹ khi còn nhỏ

Ngồi trước giường, vợ nghèo nấu (pha) trà kiểu Bắc

Gõ cửa, con gái nhỏ chơi điệu phương Nam

Nước nhà có đạo (thịnh trị) biết dùng người cách gì đây?

Bệnh tật lay lắt kéo dài suốt cả năm.

Chú thích:

- Cao đường lưỡng xứ: Chỉ cha mẹ ở hai nơi.

- Tam xuân: Ba tháng mùa xuân, ám chỉ cha mẹ; xuất xứ từ thơ "Du tử ngâm" của Mạnh Giao đời Đường. Ý trong bài: Thương cha mẹ từng hy vọng khi anh em Cao Bá Quát thông minh từ nhỏ.

- Nam âm: Có thể chỉ điệu Nam ai, Nam bình nghe thật ảo não, tả tâm trạng công chúa Huyền Trân về xứ Chiêm Thành, rất hợp cảnh ngộ họ Cao.

- Hà dụng: Dùng cách gì đây. Kẻ sĩ gặp lúc nước nhà có đạo thì ra làm quan (xuất) gặp lúc nước nhà vô đạo thì ở ẩn (xử). Họ Cao cám cảnh cho mình “xuất” mà chỉ nhận cảnh đau ốm, chẳng đền đáp nổi ơn sinh thành.

Dịch thơ:

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ


Thành vắng mây che phủ lạnh mờ
Bên cầu trầm mặc liễu lơ thơ
Cao đường rơi lệ bao buồn nhớ
Chức nghiệp thương tâm luống vọng chờ
Trà Bắc vợ nghèo pha lạch cạch
Điệu Nam con trẻ hát ầu ơ
Sinh thời tuấn kiệt ai cầu nhỉ
Đeo đẳng thâm căn bệnh vật vờ.



Trần Thị Thanh Liêm

http://tiengtrungdainam.edu.vn

PHAN THỊ THANH MINH
24-05-2014, 02:24 AM
幕 府 即 事 - Mạc phủ tức sự
阮 攸 - Nguyễn Du (1765–1820)

Nguyên văn chữ Hán:
徹 夜 鑼 聲 不 暫 停
孤 燈 相 對 到 天 明
經 旬 去 國 心 如 死
一 路 逢 人 面 盡 生
山 麓 積 泥 深 沒 馬
谿 泉 伏 怪 老 成 精
客 情 至 此 已 無 限
又 是 燕 山 萬 里 行

Phiên âm Hán Việt:
Triệt dạ la thanh bất tạm đình
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tận sinh
Sơn lộc tích nê thâm một mã
Khê tuyền phục quái lão thành tinh
Khách tình chí thử dĩ vô hạn
Hựu thị Yên sơn vạn lý hành
Nguyễn Du
Dịch nghĩa:
Suốt đêm, tiếng thanh la không ngớt.
Ta ngồi bên ngọn đèn cô đơn cho đến sáng.
Xa nước mấy tuần, lòng như chết.
Dọc đường gặp toàn người lạ.
Ở chân núi bùn ngập đến bụng ngựa.
Quái vật ẩn nấp hai bên bờ suối lâu ngày đã thành tinh.
Đến đây, tình cảm người viễn khách đã vô hạn rồi.
Huống chi cuộc hành trình đến Yên sơn (kinh đô) còn vạn dặm.

Dịch thơ:
KỂ CHUYỆN Ở MẠC PHỦ

Tiếng thanh la đánh suốt thâu đêm
Đến sáng một mình bên ngọn đèn
Nhớ nước lòng buồn như muốn chết
Đi đường người gặp chẳng hề quen
Bùn lầy chân núi lún thân ngựa
Tinh quái bên khe ẩn xác hèn (già)
Tình cảm tha hương không có hạn
Huống đường vạn dặm tới non Yên.
Phan Thị Thanh Minh

hoanggiao
24-05-2014, 05:54 PM
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

Thành vắng mây che phủ lạnh mờ
Bên cầu trầm mặc liễu lơ thơ
Cao đường rơi lệ bao buồn nhớ
Chức nghiệp thương tâm luống vọng chờ
Trà Bắc vợ nghèo pha lạch cạch
Điệu Nam con trẻ hát ầu ơ
Sinh thời tuấn kiệt ai cầu nhỉ
Đeo đẳng thâm căn bệnh vật vờ.


Trần Thị Thanh Liêm



NHỚ NHÀ CHIỀU HÔM

Hiu quạnh sương giăng khói phủ mờ
Thương hàng liễu rủ cảm lời thơ
Lòng cha cách mặt ngày ngày nhớ
Nghĩa mẹ ngăn sông phút phút chờ
Bạn đợi ly trà pha vấn vít
Con về tiếng nhạc đổ ào ơ
Đời mình bậnh tật gieo neo mãi
Cốt nhục tình thâm dạ chẳng vờ

Hoàng Giao

PHẠM MINH KHÔI
05-07-2014, 12:00 PM
Dịch thơ

NGUYỄN PHI KHANH 阮 飛 卿 (1355-1429)
Tên thật là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê. Ông sinh khoảng 1355 tại Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, Phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam Thượng(nay là Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội).Tổ tiên của ông vốn ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc.Ông là phụ thân của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.Ông đỗ tiến sĩ năm Giáp Dần(1374). Năm 1402 làm Học sĩ Viện Hàn Lâm , rồi lần lượt được thăng quan. Cuối cùng làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1407 ông bị quân Minh bắt đem sang Trung Quốc rồi mất ở đó khoảng năm 1429. Tác phẩm của ông có: Nhị Khê thi tập( đã mất) và Nguyễn Phi Khanh thi văn. Bài “Đề Huyền Thiên tự” trích ở tập Nguyễn Phi Khanh thi văn.
1- Nguyên tác 題 玄 天 字
阮 飛 卿
仙 家 一 簇 聳 雲 岑
路 入 煙 蘿 窅 蓧 深
樹 影 長 年 圍 古 澗
花 枝 清 午 囀 幽 禽
官 閒 我 得 修 身 訣
老 去 天 知 學 道 心
若 見 赤 松 憑 寄 語
佳 遊 何 日 果 幽 尋

Phiên âm : ĐỀ HUYỀN THIÊN TỰ
Nguyễn Phi Khanh

Tiên gia nhất thốc tủng vân sầm,
Lộ nhập yên la yểu điệu thâm.
Thụ ảnh trường thiên vi cổ giản,
Hoa chi thanh ngọ chuyển u cầm.
Quan nhàn ngã đắc tu thân quyết,
Lão khứ thiên tri học đạo tâm.
Nhược kiến Xích Tùng bằng ký ngữ
Giai du hà nhật quả u tầm.


Dịch thơ I: ĐỀ CHÙA HUYỀN THIÊN

Một cụm nhà tiên cao ngất mây
Lối đi dây quấn, khói sương dầy.
Bầy chim lặng tiếng giữa trưa vắng
Suối cổ in hình mãi tán cây
Bí quyết tu thân ta đã biết
Tuổi già học đạo có trời hay.
Xích Tùng , nếu gặp đôi lời nhắn
Vui thú khi nào thỏa chí đây ?
Phạm Minh Khôi (phỏng dịch)

PHẠM MINH KHÔI
13-07-2014, 04:31 PM
NGUYỄN PHI KHANH (1335-1429)
Nguyên tác : 春 寒
阮 飛 卿

凝 雲 漠 漠 露 沈 沈
釀 作 餘 寒 十 日 陰
帶 雨 有 痕 粘 樹 絮
傷 春 無 語 隔 花 禽
書 齋 寂 寂 惟 高 枕
世 事 悠 悠 正 抱 衾
安 得 此 身 同 橐 籥
和 風 噓 遍 九 州 心

Phiên âm: XUÂN HÀN
Ngưng vân mạc mạc lộ trầm trầm
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm.
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm
Thế sự du du chính bão khâm.
An đắc thử thân đồng thác thược
Hòa phong hư biến cửu châu tâm.

Dịch nghĩa: XUÂN LẠNH
Mây giăng đầy trời,.sương mờ mịt đất
Đông tàn xuân đến nhưng cái lạnh chưa qua
Nước mưa còn đọng lại trên cành hoa
Thương cảm mùa xuân không có tiếng chim hót
Trong phòng vắng vẻ , nằm gối đầu cao
Trùm chăn khi việc đời còn bao bộn bề.
Giá mà thân ta trở thành bễ lò kia
Thổi làn hơi ấm đến khắp mọi nơi
Dịch thơ I: XUÂN LẠNH
Sương mờ mịt đất, mây đầy trời
Xuân đến, đông tàn, lanh chửa thôi.
Mưa đọng , cành hoa bao giọt nước
Xót xuân , chim chóc bặt tăm hơi .
Thư phòng vắng vẻ , đầu cao khểnh
Công việc bộn bề , chăn quấn ngơi.
Giá biến được thành lò bễ nhỉ ?
Thổi làn hơi ấm khắp nơi nơi.
Phạm Minh Khôi (dịch)

PHẠM MINH KHÔI
26-07-2014, 11:00 AM
Nguyễn Trãi 海口夜泊有感
一 蹩 江 湖 數 十 年
海 門 今 日 繫 吟 船
波 心 浩 渺 滄 州 月
樹 影 參 差 浦 漵 煙
往 事 難 蕁 時 易 過
國 恩 未 報 老 堪 憐
平 生 獨 抱 先 憂 念
坐 擁 寒 衾 夜 不 眠

Phiên âm: HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM
Nhất biệt giang hồ sổ thập niên
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền.
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên.
Vãng sự nan tầm thời dị quá
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên.


Dịch thơ: ĐÊM CỬA BIỂN CẢM HỨNG
Giang hồ lưu lạc đã mười niên
Cửa biển đêm nay lại buộc thuyền.
Mặt sóng mênh mang, trăng bãi chiếu
Ánh cây lố nhố , khói trùm lên.
Việc xưa bóng cũ , khôn dìu lại
Ơn nước,thân già chửa báo đền.
“Lo trước hưởng sau” ôm chí cả
Khoác chăn ngồi lạnh đợi qua đêm.
Phạm Minh Khôi (dịch).


Dịch thơ LB: ĐÊM CỬA BIỂN CẢM HỨNG
Giang hồ lưu lạc mười niên
Đêm nay cửa biển neo thuyền thơ chơi.
Nước mênh mông , bãi sáng ngời
Một vùng khói sóng, cây thời bóng im.
Thời qua , việc cũ khó tìm
Thân già ơn nước chưa đền đáng thương.
Bình sinh chí cả* một đường
Khoác chăn ngồi suốt đêm trường khôn khuây.
Phạm Minh Khôi (dịch).
*"lo trước hưởng sau"


Và hai bài viết cũ của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380-1442) .Đỗ tiến sĩ năm 1400
Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa

PHẠM MINH KHÔI
30-11-2014, 02:12 AM
Tiến tới kỷ niệm 250 sinh của Đại thi hào Nguyễn Du

NGUYỄN DU
(1765 - 1820)

• Đây là bài “U cư Kỳ nhất” 幽 居 其一

Dịch thơ: Ở NƠI U TỊCH (Bài 1)
Hoa, lá cành đào rụng tả tơi
Một gian nhà nát cửa then rời
Trọ lâu quên hẳn mình là khách
Sống mãi nên hay tuổi lão rồi.
Giả ngố , xa quê , phòng thói tục
Giữ mình , đời loạn , sợ người thôi.
Bạc đầu lưu lạc danh chưa có
Ngọn gió tây *làm khăn nhỏ rơi.
Phạm Minh Khôi (dịch)


Dịch thơ lục bát: Ở NƠI U TỊCH (bài 1)
Lá, hoa đào rụng tả tơi
Một gian nhà nát, cửa rời lỏng then
Năm chầy già đã đeo bên
Trọ lâu thân khách lãng quên mất rồi
Tha hương giả ngố phòng đời
Giữ mình thời loạn sợ người hại ta
Bạc đầu sự nghiệp qua loa
Gió tây thổi rớt khăn sa nhỏ rồi.
Phạm Minh Khôi (phỏng dịch)

• Theo tôi biết , bài này tác giả viết trong khoảng 10 năm đi ở ẩn(1786-1795),tránh né nhà Tây Sơn , và
ngầm trách vì nhà Tây Sơn mà làm lỡ giở công danh của mình. Câu kết của bài thơ đã nói lên điều đó
(ý tại ngôn ngoại ? )


Nguyễn Du (1765-1820 ) 阮攸
幽 居 其 二
十 載 風 塵 去 國 賒
蕭 蕭 白 髮 寄 人 家
長 途 日 暮 新 遊 少
一 室 春 寒 舊 病 多
壞 壁 月 明 蟠 蜥 蜴
荒 池 水 涸 出 蝦 蟆
行 人 莫 誦 登 樓 賦
強 半 春 光 在 海 涯


Âm Hán Việt:
U CƯ KỲ NHỊ
Nguyễn Du

Thập tải phong trần khứ quốc xa
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.
Họa bích nguyệt minh bàn tích dịch
Hoang trì thủy lạc xuất hà ma.
Hành nhân mạc tụng “Đăng lâu phú”
Cưỡng bán xuân quang tại hải nha(nhai).


Dịch nghĩa: Ở NƠI U TỊCH (bài 2)

Mười năm gió bụi sống xa quê hương
Đầu bạc lốm đốm còn phải ăn nhờ ở đậu
Đường đi còn dài, trời đã về chiều, lại không tìm ra bạn mới
Một căn nhà lẻ ,giữa mùa xuân lạnh ngắt ,bệnh cũ nhiều- tái phát
Dưới ánh trăng ,con thạch sùng leo lên vách nát
Ao hoang nước cạn hết, chỉ còn thấy ếch nhái
Khách đi đường đọc bài “phú lên lầu” ( chẳng ích gì)
Quá nửa đời người ta còn ở nơi chân trời đất khách.

*”Đăng lâu phú” : bài phú làm khi lên chơi thành Giang Lăng ở Kinh Châu của Vương Xán (177-217)
Vương Xán là nhà thơ nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất của Kiến An thất tử, cuối đời Đông Hán.
Không nên nhầm với bài thơ “Đăng lâu” của Đỗ Phủ .

.
Dịch thơ (Đường Luật):

Ở NƠI U TỊCH (vắng vẻ, tối tăm)

Gió bụi mười năm biệt cố hương.
Phơ phơ đầu bạc , đất người nương
Bệnh nhiều xuân lạnh nhà đơn chiếc
Bạn ít, chiều sang , bước dặm trường
Trăng sáng ,thạch sùng leo vách nát
Nước khô ,ếch nhái quậy đầm hoang
Đi đường đừng ước “lên lầu” ngóng
Quá nửa đời còn giạt một phương
Phạm Minh Khôi (phỏng dịch)



Dịch thơ lục bát :

Ở NƠI U TỊCH (vắng vẻ, tối tăm)

Mười năm ly biệt cố hương
Tóc đầu trắng toát còn nương đất người
Đường dài , bạn ít , chiều rồi
Nhà đơn, bệnh lắm, xuần thời lạnh tê
Thạch sùng leo vách , trăng khuya
Ao khô ếch nhái dãi dề vọng vang
“Lên lầu” đừng đọc đi đường
Nửa đời rồi vẫn tha hương buồn tình.
Phạm Minh khôi (phỏng dịch)